BizLIVE - Người lao động nghỉ Tết khi chưa đến hạn lĩnh lương có thể được tạm ứng trước kỳ hạn trả lương theo những điều kiện mà người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận.
Người lao động có được tạm ứng lương trước dịp Tết Nguyên đán?
Ảnh minh họa.
Gần 1 tháng nữa là đến Tết Nguyên đán Tân Sửu 2021, ngoài việc thấp thỏm về thưởng Tết, nhiều người lao động đang băn khoăn Tết năm nay rơi vào giữa tháng 2 Dương lịch nên không biết công ty có cho tạm ứng trước tiền lương hay không, vì Tết là thời điểm người lao động phải chi tiêu rất nhiều.
Theo quy định, khoản tạm ứng là một khoản tiền hoặc vật tư do doanh nghiệp giao cho người nhận tạm ứng để thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh hoặc giải quyết một công việc nào đó được phê duyệt.
Người lao động khi chưa đến hạn lĩnh lương sẽ được tạm ứng trước kỳ hạn trả lương theo những điều kiện mà người sử dụng lao động và người lao động thỏa thuận.
5 trường hợp người lao động được tạm ứng tiền lương
Theo Bộ luật Lao động 2019, người lao động được tạm ứng lương trong các trường hợp:
Hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán mà công việc phải làm trong nhiều tháng.
Thực hiện nghĩa vụ công dân: Người lao động được tạm ứng tiền lương tương ứng với số ngày tạm thời nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân từ 1 tuần trở lên nhưng tối đa không quá 1 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. Trong trường hợp này, người lao động phải hoàn trả số tiền đã tạm ứng. Riêng trường hợp người lao động nhập ngũ theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự thì không được tạm ứng tiền lương.
Nghỉ hàng năm: Người lao động được tạm ứng một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ.
Tạm đình chỉ công việc: Trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc, người lao động được tạm ứng 50% tiền lương trước khi bị đình chỉ công việc. Thời hạn tạm đình chỉ công việc không quá 15 ngày, trường hợp đặc biệt cũng không quá 90 ngày.
Người lao động được tạm ứng tiền lương theo điều kiện do hai bên thỏa thuận và không bị tính lãi.
Với những quy định này có thể thấy, việc tạm ứng tiền lương của người lao động khi áp dụng Bộ luật Lao động 2019 không có bất cứ thay đổi nào so với quy định trước đây.
Mức tạm ứng lương tối đa bao nhiêu?
Với mỗi trường hợp nêu trên, người lao động sẽ được tạm ứng tiền lương với một mức khác nhau.
Đối với trường hợp hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán mà công việc phải làm trong nhiều tháng, để bảo vệ quyền lợi cho người sử dụng lao động, Khoản 3 Điều 97 Bộ luật Lao động 2019 nêu rõ: Hàng tháng, người lao động được tạm ứng tiền lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng. Điều này đồng nghĩa với việc, mức lương tạm ứng sẽ phụ thuộc vào khối lượng, số lượng công việc người lao động đã làm trong tháng.
Với trường hợp thực hiện nghĩa vụ công dân, Khoản 2 Điều 101 Bộ luật Lao động 2019 quy định mức lương tạm ứng tương ứng với số ngày người lao động tạm thời nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân từ 1 tuần trở lên nhưng tối đa không quá 1 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
Trường hợp nghỉ hàng năm người lao động được tạm ứng một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ.
Trong đó, theo Điều 113 Bộ luật Lao động 2019, người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hàng năm: 12 ngày làm việc nếu làm công việc trong điều kiện bình thường; 14 ngày làm việc nếu là lao động chưa thành niên, người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; 16 ngày làm việc nếu làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Nếu làm việc chưa đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hàng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc.
Pháp luật chỉ quy định mức lương tạm ứng tối thiểu trong trường hợp này, mà không quy định mức tối đa. Do đó, người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để tạm ứng số tiền lớn hơn tiền lương của những ngày nghỉ.
Với trường hợp tạm đình chỉ công việc, để người lao động có khoản thu nhập trong những ngày bị tạm đình chỉ công việc, pháp luật cho phép người lao động được tạm ứng 50% tiền lương trước khi bị đình chỉ công việc. Nếu bị xử lý kỷ luật lao động thì người lao động cũng không phải trả lại số tiền lương đã tạm ứng.
Trường hợp thỏa thuận: Khoản 1 Điều 101 Bộ luật Lao động 2019 ghi nhận sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động trong việc tạm ứng tiền lương về điều kiện cũng như mức tạm ứng. Trên cơ sở này, pháp luật không hạn chế mức tối đa mà người lao động được tạm ứng. Tuy nhiên, người sử dụng lao động không được tính lãi với số tiền tạm ứng này. 
Như vậy, khi người lao động có nhu cầu tạm ứng tiền lương vào dịp Tết, họ có thể thể tiến hành thỏa thuận với công ty để được tạm ứng và thương lượng về mức tạm ứng cụ thể.

N. NGA