BizLIVE - Từ một nước thiếu ăn rồi tự túc lương thực, sau hơn 30 năm tham gia xuất khẩu, đến nay Việt Nam đã trở thành cường quốc xuất khẩu gạo trên thế giới. Nếu trước đây khách hàng biết đến Việt Nam chủ yếu xuất khẩu các loại gạo phẩm từ cấp thấp đến trung bình, thì giờ đây câu chuyện đã rất khác…
Đón năm mới 2021, BizLIVE cùng một số chuyên gia và người trong cuộc cùng nhìn lại đường đến vị thế hàng đầu thế giới đó của ngành lúa gạo Việt Nam, cũng như hướng đến những thành công nối tiếp. 
ÔNG LÊ THANH TÙNG, PHÓ CỤC TRƯỞNG CỤC TRỒNG TRỌT - BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Cơ cấu giống lúa của Việt Nam bắt đầu thay đổi cách đây 20 năm, từ Chương trình giống Quốc gia. Khi đó, giống lúa chất lượng thấp như IR 50404 sản xuất ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) trên diện rộng, có địa phương sản xuất gần 30% diện tích, có nơi lên tới 40%, trong khi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN-PTNT) khuyến cáo chỉ nên làm 10% vì giống này cho gạo phẩm cấp thấp. Vì vậy, Việt Nam xuất khẩu gạo với khối lượng lớn nhưng đa phần là gạo cấp thấp và lượng tồn nhiều. Câu chuyện đó diễn ra suốt nhiều năm.
Từ lâu Việt Nam xác định không thể cạnh tranh với Thái Lan về các giống lúa đặc sản, vì vậy phải đi vào các giống chất lượng cao. Yêu cầu này được bắt đầu từ các cơ quan nghiên cứu của Chính phủ, rồi doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và từng cá nhân vào cuộc để tạo ra các giống lúa có ưu thế mang đặc thù riêng.
Rõ ràng bắt nguồn từ chiến lược về giống, ngành nông nghiệp Việt Nam đi đúng hướng vào những giai đoạn phù hợp. Chúng ta đi từ giống lúa chất lượng thấp lên chất lượng cao, bây giờ có giống lúa chất lượng cao thì đi lên giống thơm nhẹ và giống đặc sản.
Thứ nhất, thành công đạt được là gạo ST 25 có thể cạnh tranh được với các giống lúa cao cấp của các quốc gia khác; nhóm Lúa thơm của Việt Nam đi vào châu Âu; nhóm Lúa thơm Jasmine của Việt Nam ngày càng được củng cố. Đó là chiến lược về giống.
Thứ hai là chiến lược về an toàn thực phẩm mang tính chất đồng loạt. Ngay từ năm 2008, Bộ NN-PTNT đã khởi động chương trình trồng lúa theo tiêu chuẩn VietGAP.
Thứ ba là khởi động chương trình trồng lúa hữu cơ và lúa đặc thù, sau đó là chương trình trồng lúa bền vững từ vốn vay của Ngân hàng Thế giới cho 8 tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.
Các chương trình này đã giúp cho sản xuất lúa gạo Việt Nam đạt được khung chung về an toàn thực phẩm, nhờ vậy việc xuất khẩu đi các thị trường “khó tính”. Từ khung các chương trình này chúng ta nâng nền lúa gạo Việt Nam lên để khi xuất khẩu vào các thị trường khó tính như Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc hay châu Âu…
Khởi động thứ tư là chương trình “cánh đồng mẫu lớn”, tuy không đạt kết quả như mong muốn của Bộ nhưng cũng đã giúp thay đổi nhận thức về mối liên kết giữa các thành phần tham gia trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ lúa gạo.
Về phía Bộ Công Thương cũng có các khởi động từ Nghị định 109, sau đó là Nghị định 107 để có những thay đổi phù hợp với xu hướng chung các doanh nghiệp lúa gạo. Có thể chưa hoàn thiện 100% nhưng nhìn chung sự ra đời của các nghị định này đã bước tiến mới của ngành.
Từ nền các chương trình trên Cục Trồng trọt vẫn đang tiếp tục hoàn thiện việc điều chỉnh cơ cấu giống và chuẩn bị bộ giống cho các bước tiếp theo trong những năm tới, đáp ứng nhu cầu các thị trường xuất khẩu cao cấp.
ÔNG ĐỖ HÀ NAM, PHÓ CHỦ TỊCH HIỆP HỘI LƯƠNG THỰC VIỆT NAM, CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ KIÊM TỔNG GIÁM ĐỐC INTIMEX GROUP
Đại dịch Covid-19 xuất hiện khiến thị trường gạo xuất khẩu nhiều biến động, cùng với diễn biến thời tiết không hoàn toàn thuận lợi, nhưng 2020 lại là năm xuất khẩu tốt của ngành, dù khối lượng xuất khẩu giảm nhưng giá trị mang về tăng đến 2 chữ số. Có được kết quả này là nhờ vào cơ cấu sản phẩm gạo xuất khẩu.
Năm 2020 sản xuất lúa thơm của Việt Nam được đầu tư lớn, dẫn đến xuất khẩu gạo thơm đạt hiệu quả cao và thị trường tiêu thụ cũng tốt hơn. Nhờ vậy, vị thế của hạt gạo Việt Nam trên thị trường thế giới đã được nâng lên, khách hàng không còn nhìn Việt Nam như là một nước chuyên sản xuất và xuất khẩu gạo cấp thấp nữa.
Những năm trước, nhiều doanh nghiệp gạo gặp rủi ro do thị trường diễn biến bất lợi. 2020 nhìn chung là một năm ổn định đối với ngành gạo, dù thị trường có nhiều biến động nhưng phần lớn các doanh nghiệp đều phấn khởi. Rõ ràng đây là một năm rất thành công của ngành, từ cơ cấu gạo xuất khẩu cho đến thị trường tiêu thụ, và giá gạo xuất khẩu đã góp phần làm cho ngành lúa gạo năm nay tốt lên rất nhiều.
Để giúp cho doanh nghiệp ngành gạo tiếp tục phát triển bền vững cần có những bước đi cụ thể.
Thứ nhất, về mặt chủ trương, ngành nông nghiệp cần tổng kết, đánh giá tình hình để có cái nhìn và đánh giá xu hướng chung, từ đó đưa ra chỉ đạo về hoạt động sản xuất sao cho ngày càng phù hợp hơn với xu hướng thị trường xuất khẩu.
Thứ hai, nguồn tài chính cho các doanh nghiệp cũng cần phải xem xét, nếu doanh nghiệp nào hoạt động kinh doanh có hiệu quả cần tạo điều kiện giúp đỡ họ có nguồn vốn vay tốt hơn để hoạt động được đảm bảo ổn định.
Thứ ba, người nông dân rất cần có mặt bằng giá ổn định. Muốn vậy cần có những doanh nghiệp lớn đứng ra thu mua mỗi khi giá lúa trên thị trường xuống thấp, có như vậy mới hạn chế nông dân bán ra, giữ giá được ổn định.
 
Năm nay đã xuất hiện hiện tượng khi giá lúa bắt đầu xuống thấp thì các doanh nghiệp đẩy mạnh mua vào để thị trường bớt sụt giảm. Điều này giúp ổn định tâm lý các hộ dân, không còn lo sợ giá lúa rớt mạnh dẫn đến thua lỗ. Trước đây, nếu giá lúa rớt sâu Chính phủ can thiệp bằng cách mua tạm trữ. Bây giờ xu thế chung là các doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu vào thị trường nên ngoài lượng tạm trữ quốc gia hàng năm Chính phủ không cần phải mua can thiệp như trước.
Để xu thế đó phát triển và các doanh nghiệp tư nhân có thể góp phần giúp Chính phủ ổn định thị trường trong nước, đảm bảo an ninh lương thực, vấn đề quan trọng nhất là phải xây dựng cho được một số các doanh nghiệp đầu tàu đủ mạnh, giúp đẩy mạnh mua lúa của nông dân mỗi khi thị trường giảm giá, đặc biệt là không được ép giá. Muốn tránh cảnh nông dân bị ép giá trước tiên phải làm cho đời sống của họ tốt lên, bà con sẽ không bán ra khi thị trường xuống thấp, có như vậy thị trường lúa gạo mới ổn định.
Nếu vậy, Chính phủ cần tạo hành lang pháp lý để doanh nghiệp an tâm, vì bài học năm qua khiến doanh nghiệp bị thiệt hại khá nhiều khi đột ngột ngưng xuất khẩu do vấn đề an ninh lương thực.
ÔNG MOHIT AGARWAL, GIÁM ĐỐC KINH DOANH MẢNG GẠO CÔNG TY TNHH OLAM VIETNAM
Olam là công ty xuất khẩu gạo trên toàn cầu. Hiện gạo của Olam đã có mặt hơn 30 nước trên thế giới. Tại Việt Nam, Công ty đã đầu tư xây dựng nhà máy chế biến gạo tại Long An nên quản lý được cả chuỗi từ sản xuất, chế biến đến xuất khẩu.
Khi Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo thơm ra thị trường thế giới, Olam là công ty đầu tiên kết nối với thị trường châu Phi, bán gạo thơm với thương hiệu của Olam gắn với xuất xứ Việt Nam. Đây là cách mà Olam đóng góp vào sự phát triển của ngành gạo Việt Nam, vừa tăng sản lượng lẫn giá trị xuất khẩu trên thế giới.
Để có nguồn lúa đạt chất lượng yêu cầu, chúng tôi ký các hợp đồng liên kết với các HTX và quy trình sản xuất tại nhà máy gạo luôn được quản lý tốt giúp Olam kiểm soát tốt chất lượng xuất khẩu. Công ty vẫn tiếp tục tìm kiếm đối tác mới để đưa hạt gạo Việt Nam đi đến nhiều thị trường khác trên thế giới.
Một trong những cầu nối đáng chú ý hiện nay là Dự án “Sáng kiến Phát triển sản xuất lúa gạo khu vực châu Á - BRIA”, đáp các tiêu chí EU, góp phần nâng tầm hạt gạo Việt Nam. Tuy vẫn còn một số công việc phải hoàn chỉnh để đạt được tất cả các tiêu chí của châu Âu, nhưng trong năm 2020 chúng tôi đã xuất khẩu một lượng nhỏ gạo từ dự án này sang EU và nhận được phản hồi tốt. Dự kiến trong năm 2021 Olam sẽ xuất khẩu khoảng 15.000 tấn gạo từ BRIA sang EU.
Phần lớn người tiêu dùng EU rất thích gạo Việt Nam. Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA) ký năm qua mở ra cơ hội mới. Tuy nhiên, để có nhiều gạo xuất khẩu sang đây cũng đồng nghĩa phải đáp ứng tất các tiêu chuẩn về chất lượng mà thị trường này đặt ra. EVFTA chính là cơ hội để chuỗi sản xuất Việt Nam chuẩn hóa chất lượng gạo theo những tiêu chuẩn đó.
Dự án BRIA mà Olam đang thực hiện giúp nâng cao nhận thức cũng như tập trung sản xuất lúa gạo chất lượng cao để bán vào những thị trường cao cấp. 2021 dự báo sẽ là một năm rất tốt để bắt đầu xuất khẩu các loại gạo từ BRIA sang châu Âu. Thành công từ BRIA chính là đòn bẩy thúc đẩy người nông dân tiếp tục sản xuất lúa gạo theo phương thức bền vững.
ÔNG PHẠM QUANG DIỆU, CHUYÊN GIA PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG LÚA GẠO
Vị thế hạt gạo Việt Nam hiện nay đã tăng lên rõ rệt, nhờ vào chuyển đổi cơ cấu sản xuất lúa chất lượng cao nên tỷ lệ gạo chất lượng cao chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu.
Tuy nhiên, để khi nói đến gạo ngon thì người tiêu dùng thế giới nghĩ ngay đến Việt Nam là cả một quá trình dài phía trước. Vấn đề hiện nay là các doanh nghiệp xuất khẩu gạo phải xây dựng được uy tín trên thị trường, nhưng không hề đơn giản.
Để doanh nghiệp gạo xây dựng được uy tín trước tiên Nhà nước phải tạo môi trường xuất khẩu ổn định và thông thoáng. Năm qua, câu chuyện hạn chế xuất khẩu gạo khi đại dịch Covid-19 xuất hiện làm cho doanh nhiệp xuất khẩu gạo gặp khó khăn. Có thể yếu tố an ninh lương thực trong tình trạng khẩn cấp là một lo ngại hợp lý của Chính phủ, song nếu có các thông báo theo lộ trình cũng như các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp khi gặp cú sốc thì sẽ đạt hiệu quả hơn. Ví dụ như vậy để nói lên rằng doanh nghiệp xuất khẩu gạo rất cần một hành lang pháp lý ổn định để an tâm xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, cần có các chương trình truyền thông quảng bá hạt gạo Việt Nam một cách bài bản tại các thị trường trọng điểm, thay vì nhiều các hoạt động tham quan học tập có thể chưa có hiệu quả cao.
Về phía doanh nghiệp, sau nhiều năm trong một môi trường xuất khẩu chịu những áp lực của cơ chế điều tiết nghiêm ngặt, và áp lực cạnh tranh có lợi thế ưu đãi của các tổng công ty lớn, thì nay cơ chế thông thoáng hơn của Nghị định 107 đã giúp các doanh nghiệp tư nhân vươn lên. Tuy nhiên, xu hướng có thể vẫn đang tăng trưởng theo chiều rộng, trong khi để tăng trưởng bền vững thì cần thêm các cải thiện về quản trị và có chiến lược phát triển lâu dài.

NGUYỄN HUYỀN