BizLIVE -

Việt Nam thuộc nhóm nền kinh tế có độ mở lớn nhất thế giới về thương mại hàng hóa, cao gấp 1,5 lần Thái Lan và 5 lần so với Trung Quốc.

Diễn đàn Cải cách và Phát triển (VRDF) 2020 với chủ đề “Việt Nam: Hành động để phục hồi tăng trưởng theo hướng bao trùm và bền vững trong kỷ nguyên Covid-19” vừa được tổ chức vào sáng nay (29/9).
CẦN TĂNG HÀM LƯỢNG NỘI ĐỊA VÀ CẢI TIẾN CÔNG NGHỆ
Chuyên gia kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam, ông Jacques Morisset nhận xét Covid-19 mang lại nhiều cơ hội cho Việt Nam và Việt Nam cũng đang làm tốt và sẽ tận dụng được những cơ hội. 
"Việt Nam cần thực hiện nhanh chóng trong cuộc chiến hiện tại. Việt Nam đã kiểm soát rất tốt đại dịch Covid-19, Việt Nam cũng đang phát triển kinh tế tốt. Tuy nhiên chưa làm nhanh chóng việc chuyển đổi số, vì vậy cần nỗ lực hơn nữa", ông Morisset nhấn mạnh.
Theo số liệu mà ông Morisset cung cấp, Việt Nam thuộc nhóm một trong những nền kinh tế có độ mở lớn nhất thế giới về thương mại hàng hóa. Độ mở của kinh tế Việt Nam cao gấp 1,5 lần Thái Lan và 5 lần so với Trung Quốc. Dòng vốn FDI vào Việt Nam tính trong tương quan với nền kinh tế cao hơn nhiều nếu so với con số 2% tại Malaysia và Thái Lan. Các chuỗi giá trị toàn cầu chiếm 66% trong các giao dịch thương mại. 
Tuy nhiên, ông Morisset dự báo, thương mại toàn cầu rồi sẽ thay đổi: “Sau này khi chúng ta đến thăm các nhà máy, chúng ta sẽ không còn nhìn thấy nhiều người công nhân như trước nữa mà chủ yếu các máy móc tự động hóa. Vì vậy Việt Nam cần tăng hàm lượng nội địa, đa dạng hóa và cải tiến công nghệ mạnh mẽ”.
Quang cảnh diễn đàn hôm nay - Ảnh: TTXVN
Cũng theo Kinh tế trưởng của WB, Việt Nam đang có chiến lược FDI và sản xuất quá tập trung vào một số ngành nghề. Mức độ nội địa hóa các sản phẩm của Việt Nam còn thấp và thậm chí đang giảm dần theo thời gian, mức độ nội địa hóa trong sản phẩm của Việt Nam thấp hơn 2 lần so với Trung Quốc. Việt Nam cần làm tốt hơn nữa để thu hút FDI và tích hợp mạnh hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam tập trung quá nhiều vào một số trọng điểm, ngành nghề, thị trường. 
4 sản phẩm xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam bao gồm dệt may, điện tử, hóa chất và kim loại chiếm hơn 2/3 kim ngạch thương mại trong chuỗi giá trị toàn cầu. 4 thị trường lớn nhất (Trung Quốc, Nhật bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ) chiếm 60% kim ngạch thương mại trong chuỗi giá trị toàn cầu. Ngoài ra 4 tập đoàn hàng đầu bao gồm Samsung, Foxconn, Intel và Panasonic chiếm 70% kim ngạch thương mại trong chuỗi giá trị chế tạo toàn cầu. 
CẦN TẬP TRUNG VÀO 5 ƯU TIÊN DÀI HẠN
Chiến lược mới cho Việt Nam trong thời gian tới nên như thế nào? Việt Nam cần phát triển sạch, đầu tư sạch. Thế nhưng Việt Nam sẽ cần mất nhiều thời gian chứ không thể nào chỉ một sớm một chiều. 
Có khi phải mất đến cả một thế hệ để hoàn thành việc xây dựng thêm nhiều hạ tầng, cầu cảng, sân bay mới… Ông Morisset cho rằng Việt Nam cần tập trung vào 5 ưu tiên dài hạn như sau:
Lao động có kỹ năng: Thúc đẩy giáo dục và đào tạo sau trung học do Việt Nam cần có một lực lượng lao động với năng lực tốt hơn nếu muốn vượt ra ngoài lĩnh vực lắp ráp và xây dựng được mạng lưới các nhà cung cấp, các nhà phân phối nội địa. Đây được coi như điểm nghẽn then chốt, theo đánh giá của hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. 
Công nghệ mới: Việt Nam cần đẩy mạnh phát triển hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D). Tuy nhiên trước hết Việt Nam cần bắt kịp về công nghệ thông qua nắm bắt công nghệ từ các nhà đổi mới sáng tạo toàn cầu bởi nhiều doanh nghiệp trong nước hiện đang tụt hậu trong đổi mới sáng tạo và quản trị chất lượng.
Hạ tầng kết nối (trên mạng và vật lý): Cần kết nối Việt Nam với các thị trường toàn cầu nhưng cũng cần cải thiện liên kết giữa các doanh nghiệp tại Việt Nam. 
Mở cửa dịch vụ: Việc xóa bỏ các rào cản gia nhập và sự thiên vị dành cho doanh nghiệp nhà nước sẽ giúp nâng cao cạnh tranh và dần cải thiện năng suất cũng như thương mại hàng hóa (các dịch vụ như logistics có ảnh hưởng khá lớn) vì theo thời gian ranh giới giữa sản phẩm và dịch vụ sẽ ngày một bị xóa mờ. 
Các hoạt động phát triển sạch và nâng cao sức chống chịu: Quan tâm đến khả năng chống chịu của môi trường để ứng phó với biến đổi khí hậu và cải thiện điều kiện sống (ô nhiễm).
VỀ LÂU DÀI, FDI LÀ MỘT NGUỒN TÀI CHÍNH ĐẮT ĐỎ 
Trong khi đó, chuyên gia kinh tế, cố vấn kinh tế cao cấp của Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), ông Jonathan Pincus cho rằng Việt Nam cần nắm bắt cơ hội từ dịch chuyển chuỗi giá trị toàn cầu (GVC), cần hành động để thu hút vốn FDI chất lượng, phát triển khu vực kinh tế tư nhân và doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam. 
Ông Pincus lưu ý, Việt Nam có lợi thế về chi phí lao động, đặc biệt với những ngành thâm dụng lao động. Thế nhưng trong dài hạn, một nền kinh tế thâm dụng lao động sẽ có ít lợi thế hơn trong thu hút vốn FDI. 
Cũng theo ông Pincus, Việt Nam sẽ vẫn là điểm đến hấp dẫn của các công ty đa quốc gia (MNE) đang tìm kiếm các nền tảng xuất khẩu chi phí thấp do tiền lương tại Trung Quốc tăng lên và tranh chấp thương mại với Mỹ gia tăng. Việc Việt Nam tham gia ngày một nhiều vào các hiệp định thương mại đa phương và đầu tư song phương là vô cùng đáng quý. Ông Pincus khẳng định Việt Nam cần xây dựng năng lực quan trọng trong các ngành công nghiệp bền vững có tiềm năng tăng trưởng dài hạn. 
Còn xét trong bình diện toàn cầu, chuyên gia UNDP này chỉ ra rằng, Việt Nam cần cố gắng tận dụng lợi ích của FDI nhưng cũng cần rất thận trọng với các mặt trái của FDI. Lợi ích từ thu hút vốn FDI  là tạo việc làm ổn định cho người lao động; tạo nguồn thu thuế; tạo xuất khẩu, tiếp cận ngoại hối, tạo ra cầu đối với đầu vào sản xuất trong nước và đầu vào cho các ngành hạ nguồn; giúp cho các doanh nghiệp trong nước phát triển kỹ năng. FDI cũng có khả năng chống chịu các cú sốc tài chính tốt hơn so với đầu tư gián tiếp và vay nợ nước ngoài.
Tuy nhiên, mặt trái của FDI cũng không hề ít. Về lâu dài, FDI là một nguồn tài chính đắt đỏ nếu xét đến hàng loạt hoạt động của doanh nghiệp bao gồm chuyển lợi nhuận về nước, chuyển giá; nếu các nhà đầu tư FDI đòi miễn giảm thuế thì ảnh hưởng về doanh thu sẽ có.
Ngoài ra, cũng có ít bằng chứng thực nghiệm về tác động lan tỏa của công nghệ theo chiều ngang từ doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp trong nước và cuối cùng, FDI thường có xu thế cao hơn tại các nước có thị trường vốn yếu kém. 

NGỌC DIỆP