WB: Người Mường, người Sán Dìu và người Khmer giàu có hơn nhờ có hạ tầng tốt

Trung Mến

17:35 08/11/2019

BizLIVE -

Kết nối hạ tầng đã góp phần cốt lõi vào sự thành công của các nhóm Mường, Sán Dìu và Khmer, như tiếp cận giao thông thuận lợi làm giảm chi phí vận chuyển, tiếp cận được thị trường và các kết nối xã hội.

WB: Người Mường, người Sán Dìu và người Khmer giàu có hơn nhờ có hạ tầng tốt
Để xác định được các nhóm ‘đầu bảng’ và các nhóm ‘cuối bảng’, nhóm nghiên cứu đã dựa vào số liệu Điều tra Thực trạng Kinh tế - Xã hội của 53 Dân tộc thiểu số năm 2015 để tính toán chỉ số Phát triển con người (HDI) và chỉ số Nghèo đa chiều (MPI) như là hai chỉ báo về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội của các DTTS. 
Sau nhiều cuộc tham vấn với đông đảo các nhà nghiên cứu, chuyên gia, đại diện của Ủy ban Dân tộc và Ngân hàng Thế giới, nhóm nghiên cứu đã thống nhất lựa chọn 6 nhóm dân tộc thiểu số (DTTS). Theo đó, nhóm Mường và Sán Dìu đại diện cho các nhóm ‘đầu bảng’; nhóm Khơ Mú và Mông đại diện cho các nhóm ‘cuối bảng’; nhóm Xơ Đăng được chọn do ở vị trí gần các nhóm cuối bảng còn nhóm Khmer thì lại sát với các nhóm ‘đầu bảng’. 
 
Với cách thức lựa chọn các nhóm DTTS này, nghiên cứu đã bao quát được thứ hạng phát triển kinh tế - xã hội khác nhau của các nhóm DTTS, thể hiện trong bảng dưới đây:
Dựa trên sự xác định các nhóm ‘đầu bảng’ và nhóm ‘cuối bảng’ này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành lựa chọn các địa bàn nghiên cứu cho cấu phần định tính. Nhóm nghiên cứu đã tiến hành điền dã nhân học trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 7 năm 2018 trên địa bàn thuộc 7 tỉnh, 13 huyện, 16 xã và 32 thôn ấp. 
Tổng cộng, nhóm nghiên cứu đã thực hiện 105 cuộc tham vấn với các bên hữu quan tại cấp tỉnh, 260 cuộc cấp huyện, 192 cuộc ở xã và 832 cuộc tại thôn ấp và cấp hộ gia đình (trong số này 48.5% là nữ), nâng tổng số đối tượng phỏng vấn lên 1389 người.
Các nhóm ‘đầu bảng’ có kết nối hạ tầng tốt hơn. Nghiên cứu xác định kết nối hạ tầng đã góp phần cốt lõi vào sự thành công của các nhóm Mường, Sán Dìu và Khmer, như tiếp cận giao thông thuận lợi làm giảm chi phí vận chuyển, tiếp cận được thị trường và các kết nối xã hội. 
Cải thiện về hạ tầng những năm gần đây khiến kết nối kinh tế càng quan trọng hơn, như gần các đô thị, khu công nghiệp nên thanh niên DTTS có điều kiện tiếp cận thị trường lao động phi nông nghiệp, hoặc các nông hộ DTTS có thể tham gia sản xuất theo chuỗi giá trị.
Sự kết nối về kinh tế với các khu công nghiệp đã giúp không ít phụ nữ DTTS có thể xin vào làm và đi về hàng ngày. Không có sự kết nối đó thì rất khó để những phụ nữ DTTS này có thể đi xa nhà làm việc. Do khoảng cách địa lý có ảnh hưởng đến các quan niệm địa phương về phụ nữ chấp nhận làm các công việc xa nhà, yếu tố này có ảnh hưởng quan trọng đến lựa chọn và tiếp cận các cơ hội việc làm, nghề nghiệp ngoài địa bàn cư trú của chị em phụ nữ. 
Khoảng cách địa lý càng xa nơi cư trú thì khả năng tiếp cận các cơ hội công việc của phụ nữ càng giảm. Ở góc độ này có sự khác biệt giữa các nhóm ‘đầu bảng’ và các nhóm ‘cuối bảng’. Đối với các nhóm ‘đầu bảng’ như Sán Dìu, Mường và Khmer nhìn chung nhân tố khoảng cách địa lý không thực sự đóng vai trò đáng kể đến việc tiếp cận cơ hội việc làm của phụ nữ.
Kết nối hạ tầng kém thường gắn với các nhóm ‘cuối bảng’. Đáng chú ý tình trạng kết nối hạ tầng ở nhóm Mông là yếu nhất so với tất cả các nhóm dân tộc nghiên cứu. Thêm vào đó các nhóm ‘cuối bảng’ cũng thường có kết nối kinh tế kém. Nội hàm khoảng cách địa lý thực sự mang tính đặc thù vùng miền. 
Các ý niệm về ‘khoảng cách’, mức độ ‘xa xôi’ có thể không phản ánh chính xác điều kiện thực tế, khi tính đến yếu tố thời tiết và hiện trạng công trình cơ sở hạ tầng. Điều này gợi ý rằng khoảng cách không nên chỉ xem xét từ khía cạnh địa lý cơ học mà có thể bao gồm cả các yếu tố kinh tế, văn hóa, và xã hội…

TRUNG MẾN

Tin liên quan

Cùng dòng sự kiện