Vốn tự có sụt giảm, tỷ lệ an toàn vốn hệ thống ngân hàng chỉ còn 11,57%

Trần Thúy

11:54 10/04/2019

BizLIVE - Vốn tự có của toàn hệ thống đã giảm 0,69% trong tháng 1, trong đó chủ yếu ghi nhận giảm ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần.

Vốn tự có sụt giảm, tỷ lệ an toàn vốn hệ thống ngân hàng chỉ còn 11,57%

CAR của toàn hệ thống chỉ còn 11,57%.

Ngân hàng Nhà nước vừa công bố một số chỉ tiêu cơ bản trong hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng tính đến cuối tháng 1/2019.
Theo đó, tính đến ngày 31/1/2019, tổng tài sản có toàn hệ thống đã đạt 11,127 triệu tỷ đồng, tăng 0,57% so với mức đạt được hồi cuối năm 2018.
Trong đó, tổng tài sản có của khối ngân hàng thương mại nhà nước (gồm AgriBank, VietinBank, Vietcombank, BIDV, Ngân hàng Xây dựng, Dầu khí Toàn cầu, ngân hàng Đại Dương) vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất (43,76%), đạt gần 4,9 triệu tỷ đồng.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản của nhóm này chỉ đạt 0,13%, thấp hơn khá nhiều so với tốc độ tăng trưởng của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần là 0,7% (đạt gần 4,6 triệu tỷ đồng) và nhóm ngân hàng liên doanh nước ngoài là 2,15% (đạt gần 1,2 triệu tỷ đồng).
Riêng tài sản của ngân hàng Chính sách xã hội và Quỹ tín dụng nhân dân trong tháng đầu tiên của năm 2019 có sự sụt giảm so với cuối năm trước, với mức giảm lần lượt 0,54% và 0,9%.
Đáng chú ý, dữ liệu do Ngân hàng Nhà nước công bố cho thấy, vốn tự có của toàn hệ thống đã giảm 0,69% trong tháng 1, trong đó chủ yếu ghi nhận giảm ở nhóm ngân hàng thương mại cổ phần, với mức giảm lên tới 2,42%, còn 330 nghìn tỷ đồng. Vốn của nhóm ngân hàng liên doanh nước ngoài cũng giảm nhẹ 0,76%, xuống mức 161,6 nghìn tỷ đồng.
Riêng vốn tự có của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước vẫn tăng 1,07% trong tháng, lên gần 271,4 nghìn tỷ đồng.
Xét về vốn điều lệ, nhóm ngân hàng thương mại nhà nước lại là nhóm có mức tăng mạnh nhất trong tháng đầu tiên của năm mới với mức tăng 0,75%, đạt 149 nghìn tỷ đồng, sau thương vụ Vietcombank bán vốn cho nước ngoài.
Trong khi đó, vốn của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần và nhóm công ty tài chính, cho thuê không đổi trong khi vốn của nhóm ngân hàng liên doanh, nước ngoài giảm 0,21%, xuống còn 113,2 nghìn tỷ đồng.
Việc vốn tự có giảm sút đã kéo theo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) của các nhà băng tiếp tục xuống thấp. Tính đến cuối tháng 1, CAR của toàn hệ thống ở mức 11,57%, giảm so với mức 12,14% hồi cuối năm 2018.
Trong đó, CAR của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục ở mức thấp nhất, đạt 9,31%, so với mức 9,52% hồi cuối năm ngoái.
Cùng “cảnh ngộ”, CAR nhóm ngân hàng thương mại cổ phần cũng giảm từ mức 11,24% xuống còn 10,56%. CAR của nhóm ngân hàng liên doanh nước ngoài ở mức cao nhất, đạt 23,53%, dù vậy, con số này vẫn giảm khá mạnh so với mức 25,88% đạt được cách đó 1 tháng.
Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn toàn hệ thống ở mức 28,77%, trong đó tỷ lệ này tại các ngân hàng thương mại nhà nước là 31,56% và ngân hàng thương mại cổ phần là 32,94%; tại các công ty tài chính, cho thuê tài chính là 34,59%.
Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn của khối ngân hàng liên doanh, nước ngoài không có giá trị do khối này không sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn.
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước  
Trong khi đó, về khả năng sinh lời của các nhà băng, số liệu cập nhật đến hết quý 3/2018 cho thấy, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) cao nhất thuộc về nhóm công ty tài chính, cho thuê với 3,02%, đứng thứ hai là Ngân hàng chính sách xã hội với ROA đạt 1,02%.
ROA của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước ở mức khá thấp, đạt 0,52%, chỉ đứng trên Ngân hàng Hợp tác xã (0,42%) và thấp hơn ROA trung bình của toàn hệ thống là 0,7%. ROA của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần đạt 0,76% và của ngân hàng liên doanh, nước ngoài là 0,88%.
Đối với chỉ tiêu tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), nhóm các công ty tài chính, cho thuê cũng đang dẫn đầu với 13,83%, tiếp đến là Quỹ tín dụng nhân dân với mức 12,95%. 
ROE của các ngân hàng thương mại nhà nước đạt 10,21% và của khối ngân hàng thương mại cổ phần là 9,88%, cao hơn mức ROE trung bình toàn ngành là 9,06%.

TRẦN THÚY

Bảng giáThị trường

VN-Index 980.76 ▼ -2.22 (-0.23%)

 
VN-Index 980.76 -2.22 -0.23%
HNX-Index 107.44 0.1 0.09%
UPCOM 57.5 0.11 0.2%
DJIA 25,283.0 -12.87 -0.05%
Nasdaq 7,157.39 20.83 0.29%
Nikkei 225 23,849.99 135.46 0.57%
FTSE 100 7,724.08 27.57 0.36%
Thăm dò ý kiến
Năm 2018, kênh đầu tư nào sẽ sinh lợi nhất?