SSI Research: Gần 37 nghìn tỷ trái phiếu BĐS phát hành 8 tháng đầu 2019, NHTM là bên mua chính

Mai Hương

17:58 03/09/2019

BizLIVE - SSI Research ước tính đã có 129.016 tỷ đồng trái phiếu doanh nghiệp được phát hành 8 tháng đầu năm. Trong đó, trái phiếu bất động sản là lĩnh vực có doanh nghiệp chào bán tham gia đông đảo nhất.

SSI Research: Gần 37 nghìn tỷ trái phiếu BĐS phát hành 8 tháng đầu 2019, NHTM là bên mua chính

Ảnh minh họa.

36.946 tỷ đồng trái phiếu BĐS được phát hành trong 8 tháng đầu năm
Trong 8 tháng đầu năm 2019, bất động sản là lĩnh vực có các doanh nghiệp tham gia chào bán trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) đông đảo nhất với 44/108 doanh nghiệp. Tổng lượng chào bán là 47.804 tỷ đồng nhưng chỉ có 36.946 tỷ đồng được phát hành, dư bán 10.858 tỷ đồng.
Trong đó, An Quý Hưng (5.300 tỷ đồng chia làm 2 đợt) do TCBS tư vấn phát hành và Sunrise Real Estate, một thành viên của Bitexco (820 tỷ đồng) do VPBS tư vấn phát hành là 2 doanh nghiệp huy động trái phiếu bất thành vì không có trái phiếu nào được mua. Còn lại là 59 đợt phát hành có dư bán và 76 đợt phát hành được mua hết toàn bộ. 
 Nguồn SSI.
Mức lãi suất phù hợp với mức độ rủi ro và hầu hết không nhỉnh hơn nhiều so với lái suất cho vay Bất động sản là lĩnh vực kinh doanh yêu cầu vốn lớn và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Bản thân các ngân hàng thương mại (NHTM) cũng phải áp hệ số rủi ro 50% với cho vay đảm bảo bằng nhà ở, quyền sử dụng đất; 200% với cho vay đầu tư, kinh doanh BĐS (theo thông tư 36) và hệ số này còn tăng lên cao hơn nữa trong dự thảo thông tư thay thế.
Theo đánh giá của SSI Research (SSI), rủi ro cao hơn nên lãi suất trái phiếu BĐS thuộc nhóm cao nhất cũng là điều dễ hiểu. Lãi suất trái phiếu bình quân của tất cả các trái phiếu BĐS phát hành 8 tháng đầu năm 2019 là 10,01%/năm. Chỉ có 4 doanh nghiệp huy động được trái phiếu có lãi suất từ 8% trở xuống; nếu loại trừ các khoản này, lãi suất huy động bình quân tăng lên 10,3%/năm.
 Nguồn SSI.
Khoảng lãi suất từ 10% đến dưới 11%/năm chiếm tỷ trọng lớn nhất (15.277 tỷ đồng – tương đương 41,5%). Tiếp theo là khoảng từ 11% đến dưới 12%/năm (7.874 tỷ đồng, 21,5%). Như vậy, 94,3% trái phiếu BĐS phát hành có lãi suất dưới 12%/năm.
 Nguồn SSI.
Chỉ có 8 lô phát hành của 5 doanh nghiệp với tổng giá trị phát hành là 2.079 tỷ đồng trái phiếu có lãi suất từ 12%/năm trở lên (tương đương tỷ trọng 5,7%) trong đó cao nhất là 200 tỷ đồng phát hành ngày 8/4/2019 của CTCP Phát triển BĐS Phát Đạt (PDR) với mức lãi suất 14,45%/năm. Doanh nghiệp này có 6 đợt phát hành thì 4 đợt đều ở nhóm lãi suất cao nhất thị trường, hai lô còn lại có lãi suất thấp hơn thì đều được các ngân hàng ôm trọn.
Cụ thể: MBB mua trọn lô 550 tỷ đồng, kỳ hạn 5 năm, phát hành 3/6/2019 có lãi suất thả nổi, năm đầu 10,5%/năm, các năm sau bằng lãi suất tham chiếu cộng 3,5%/năm; OCB mua trọn lô 225 tỷ đồng kỳ hạn 1 năm, phát hành ngày 1/8/2019 có lãi suất 9,5%/năm. 
 Nguồn SSI.
NHTM tham gia mạnh vào thị trường TPDN bất động sản
Trong tổng số 36.876 tỷ đồng trái phiếu BĐS được phát hành, có 7.410 tỷ đồng (20,1%) được mua bởi các NHTM, 3.250 tỷ đồng (8,8%) được mua bởi các CTCK và 22.664 tỷ đồng (61,5%) chỉ có thông tin chung chung là do NĐT trong nước mua. Bên cạnh BĐS, các ngân hàng cũng mua 3.750 tỷ đồng TPDN các lĩnh vực khác.
 Nguồn SSI.
Như vậy, căn cứ trên công bố thông tin của các doanh nghiệp, có 9 NHTM đã mua vào 11.160 tỷ đồng, chiếm 9,6% lượng TPDN phát hành trong 8 tháng đầu năm 2019 trong đó mua nhiều nhất là MBBank (3.770 tỷ đồng) rồi đến PVCombank (1.900 tỷ đồng), Techcombank (1.510 tỷ đồng), MSB (1.150 tỷ đồng)…
Nếu căn cứ số liệu trên bảng cân đối kế toán tại 30/6/2019 của 18 NHTM niêm yết, tổng số TPDN các ngân hàng nắm giữ là gần 230,5 nghìn tỷ đồng – tăng 65 nghìn tỷ đồng so với cuối năm 2018 trong đó một số ngân hàng tăng rất mạnh là STB, CTG, SHB, MBB. Ngân hàng nắm giữ nhiều TPDN nhất vẫn là TCB với số dư là 60.663 tỷ đồng tại 30/6/2019.
Thực tế, so với cho vay, việc mua trái phiếu doanh nghiệp sẽ giúp các NHTM linh hoạt hơn vì các NHTM có thể bán lại một phần trái phiếu này cho các tổ chức, quỹ đầu tư và khách hàng cá nhân khi cần điều chỉnh các khoản mục tài sản trên bảng cân đối kế toán.
Tuy nhiên, một số ngân hàng có thể sử dụng công cụ trái phiếu doanh nghiệp, thông qua các giao dịch tài chính phức tạp để cơ cấu lại nợ của tổ chức phát hành hoặc các mục đích khác. Để hạn chế các rủi ro tiềm ẩn, mới đây, Ngân hàng Nhà nước đã có văn bản gửi đến các NHTM yêu cầu tăng cường kiểm soát hoạt động đầu tư TPDN và cho biết sẽ xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. 
Các CTCK là đóng vai trò quan trọng trong sự sôi nổi của thị trường trái phiếu BĐS
TCBS là tổ chức tư vấn phát hành lớn nhất đối với TP BĐS, công ty này đã thu xếp phát hành thành công cho gần 13,7 nghìn tỷ đồng trái phiếu BĐS, tập trung vào các công ty liên quan đến Vingroup như Vinpearl, CTCP Đầu tư và Phát triển Du lịch Phú Quốc. Ngoài ra còn thu xếp phát hành cho Cáp treo Bà Nà, NewCo, BĐS Tân Liên Phát Sài Gòn, Tân Liên Phát Tân Cảng.
Nguồn SSI.  
MBS thời gian gần đây cũng đẩy mạnh mảng trái phiếu, công ty này là trung gian thu xếp phát hành thành công cho 2.792 tỷ đồng TP BĐS, trong đó có trái phiếu của NVL, FLC và một số công ty khác. Đáng lưu ý, MBB và MBS cũng chính là người mua của hơn 1 nửa số TP BĐS này. 
Sự phát triển của TPDN là một tất yếu và cũng phù hợp với định hướng của nhà nước nhằm phát triển thị trường vốn song song với thị trường tín dụng. Tuy quy mô phát hành TPDN đã có mức tăng trưởng khá cao, nhìn sâu vào từng đợt phát hành vẫn thấy có một số điểm cần lưu tâm như việc NHTM là bên mua của nhiều loại TPDN, trong đó có TPDN BĐS. Công bố thông tin phát hành TPDN vẫn có trường hợp chung chung như ẩn tên của đơn vị mua trái phiếu.
Nhìn một cách tổng thể, lãi suất TPDN vẫn nằm trong mức tương đối an toàn bởi xấp xỉ bằng với lãi suất vay ngân hàng. Nhưng nếu thiếu một cơ quan định mức tín nhiệm đủ uy tín, người mua trái phiếu, đặc biệt là các nhà đầu tư cá nhân sẽ rất khó xác định mức lãi suất hợp lý. Khi chính sách liên quan đến phát hành TPDN thông thoáng hơn thì các cơ chế bảo vệ nhà đầu tư cũng cần hoàn chỉnh hơn. Đây sẽ là nền tảng để phát triển thị trường TPDN lớn mạnh và bền vững. 

MAI HƯƠNG

Bảng giáThị trường

VN-Index 994.49 ▼ -2.25 (-0.23%)

 
VN-Index 994.49 -2.25 -0.23%
HNX-Index 102.23 0.0 0.0%
UPCOM 56.44 0.03 0.06%
DJIA 25,283.0 -12.87 -0.05%
Nasdaq 7,157.39 20.83 0.29%
Nikkei 225 23,849.99 135.46 0.57%
FTSE 100 7,724.08 27.57 0.36%
Thăm dò ý kiến
Bạn dự tính chỉ số VN-Index của thị trường chứng khoán Việt Nam kết thúc năm 2019 sẽ ở vùng điểm nào?