Quy mô trái phiếu doanh nghiệp tăng nhanh: Lợi ích nhiều, rủi ro tiềm ẩn lớn

Linh Linh

06:30 20/08/2019

BizLIVE - Thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ trong 6 tháng đầu năm 2019, đem lại nhiều lợi ích cho các bên liên quan, tuy nhiên vẫn còn nhiều rủi ro tiềm ẩn...

Quy mô trái phiếu doanh nghiệp tăng nhanh: Lợi ích nhiều, rủi ro tiềm ẩn lớn

Ảnh minh họa.

Theo thống kê, từ khi có Nghị định số 163/2018/NĐ-CP của Chính phủ quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp (TPDN), hầu như tuần nào cũng có thông tin về các đợt phát hành TPDN mới.
Thông tin từ Bộ Tài chính cho biết, 6 tháng đầu năm 2019, tổng phát hành TPDN là 116.085 tỷ đồng, tăng tới 74% so với cùng kỳ năm trước. 
Trong đó, ngân hàng thương mại phát hành 36.700 tỷ đồng (chiếm 36%), doanh nghiệp bất động sản là 22.122 tỷ đồng (19%), lượng phát hành của công ty chứng khoán chiếm 3,5%, còn lại là các doanh nghiệp khác. 
Lãi suất trái phiếu doanh nghiệp bình quân từ 9,5%-11%/năm, cao hơn khoảng 0,5% - 1% so với mức cho vay phổ biến của các ngân hàng thương mại.
Cá biệt có doanh nghiệp bất động sản huy động vốn với lãi suất lên đến 14,5%. 
Quy mô thị trường TPDN tới hết tháng 6 có mức vốn hóa bằng 10,22% GDP, tăng 21% so với cùng kỳ 2018, vượt mục tiêu đặt ra là 7% GDP vào năm 2020 của Chính phủ. 
Các chuyên gia dự báo, thị trường TPDN ở Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng 30-40% trong vài năm tới.
Lợi ích cho nhiều bên…
Theo đánh giá của khối phân tích tại Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế - Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (MSB), việc phát hành TPDN đem lại lợi ích cho nền kinh tế nói chung cũng như cho nhiều bên liên quan như doanh nghiệp phát hành, nhà đầu tư, ngân hàng…
Thị trường TPDN phát triển mạnh sẽ giúp đa dạng hóa kênh truyền tải vốn của nền kinh kế, từng bước hình thành kênh cung vốn trung, dài hạn cho doanh nghiệp, giảm bớt áp lực cho vay của các ngân hàng thương mại, đồng thời, hỗ trợ các ngân hàng thương mại huy động vốn trái phiếu để tăng vốn cấp 2. 
Về phía nhà đầu tư, kênh TPDN giúp họ nhận được lãi suất cao hơn so với gửi tiền tiết kiệm tại ngân hàng. 
Về phía doanh nghiệp phát hành TPDN, lãi suất tuy cao hơn so với lãi vay ngân hàng, nhưng điều kiện dễ dàng hơn, thủ tục đơn giản và thường không cần tài sản đảm bảo. 
Đồng thời, phần lớn ngân hàng thương mại cho vay kỳ hạn dưới 3 năm, trong khi kỳ hạn phát hành TPDN phổ biến là 5 năm, có lợi cho nhà phát hành TPDN hơn. 
Ngân hàng, công ty chứng khoán, các tổ chức môi giới, phân phối TPDN cũng tích cực chào bán để thu phí dịch vụ. Xu hướng hiện nay, các ngân hàng ngoài thu lãi từ tín dụng cũng tăng doanh thu nhờ thu phí dịch vụ, trong đó có phí dịch vụ từ phát hành hộ TPDN.
Nhưng nhiều rủi ro đi kèm
Như đã nói ở trên, thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển mạnh mẽ trong 6 tháng đầu năm 2019 đã đem lại nhiều lợi ích cho các bên liên quan. Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia, thị trường này vẫn còn tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Thứ nhất, nếu không được kiểm soát tốt, việc phát hành TPDN sẽ ảnh hưởng tới thị trường tín dụng và cân đối vĩ mô. 
Thứ hai, hầu hết các doanh nghiệp phát hành trái phiếu đều chưa được xếp hạng tín nhiệm khiến các nhà đầu tư không đủ thông tin để phân tích rủi ro; vốn huy động có thể sử dụng chưa đúng mục đích; TPDN thường không có tài sản đảm bảo, không có tổ chức bảo lãnh... 
Thứ ba là rủi ro về thanh khoản khi thị trường thứ cấp của TPDN tại Việt Nam chưa phát triển khiến rủi ro của người nắm giữ trái phiếu doanh nghiệp gia tăng.
Theo đó, một điều quan trọng là Việt Nam cần phải có một hành lang pháp lý phù hợp hơn để đảm bảo sự phát triển bền vững của thị trường cũng như quyền lợi cho các nhà đầu tư.
Theo lãnh đạo Bộ Tài chính, nhằm phòng ngừa những rủi ro này, tại dự án Luật chứng khoán sửa đổi đang được trình Quốc hội, Bộ đang đề xuất bổ sung quy định doanh nghiệp bắt buộc phải được xếp hạng tín nhiệm khi phát hành TPDN ra công chúng. 
Bộ Tài chính cũng đang nghiên cứu mô hình của thị trường TPDN thứ cấp để tăng tính thanh khoản của thị trường này.

LINH LINH

Bảng giáThị trường

VN-Index 985.75 ▼ -4.61 (-0.47%)

 
VN-Index 985.75 -4.61 -0.47%
HNX-Index 104.38 0.24 0.24%
UPCOM 56.69 -0.28 -0.5%
DJIA 25,283.0 -12.87 -0.05%
Nasdaq 7,157.39 20.83 0.29%
Nikkei 225 23,849.99 135.46 0.57%
FTSE 100 7,724.08 27.57 0.36%
Thăm dò ý kiến
Bạn dự tính chỉ số VN-Index của thị trường chứng khoán Việt Nam kết thúc năm 2019 sẽ ở vùng điểm nào?