BizLIVE - Trong lúc tranh luận, các bị cáo cho rằng cần làm rõ "tên gọi" của khoản tiền 4.500 tỷ đồng trong vụ án.
Vụ xử ông Phạm Công Danh: Tranh cãi tên gọi khoản tiền 4.500 tỷ
Tại tòa, các cựu lãnh đạo VNCB cho rằng nguyên nhân các bị cáo phạm tôi xuất phát từ việc nhóm Phạm Công Danh tiếp quản một ngân hàng đã bị bà Hứa Thị Phấn làm cho rỗng ruột.

Hôm nay 17/12, phiên xử phúc thẩm vụ án Phạm Công Danh giai đoạn 2 tiếp tục với phần trung tụng. Các bị cáo tham gia đối đáp lại quan điểm của đại diện Viện kiểm sát (VKS).

Bị cáo Phan Thành Mai, nguyên Tổng giám đốc Ngân hàng VNCB trình bày liên quan đến khoản tiền 4.500 tỷ đồng. Bị cáo cho biết, bản chất VNCB nâng vốn là thời điểm đó ngân hàng phát hành thêm một số lượng cổ phần tương ứng khoản 4.500 tỷ đồng và thực hiện chào bán theo quy định. Nhưng vì VNCB là ngân hàng đại chúng nên buộc phải thực hiện bán theo Luật Chứng khoán. Sau khi nộp tiền vào đầy đủ, ngân hàng nộp hồ sơ để thẩm định từ Uỷ ban chứng khoán (UBCK). Sau khi hoàn chỉnh hồ sơ, UBCK đã đăng lên trang web của cơ quan này về việc mua số cổ phần để tăng vốn, tức là công nhận quyền mua cổ phần của ngân hàng.

Bị cáo Mai cũng đối đáp lại quan điểm của đại diện ngân hàng CB (trước đây là Đại Tín và VNCB) về việc không hoàn trả 4.500 tỷ đồng vì ngân hàng đang thua lỗ. Bị cáo Mai nêu, tại thời điểm các bị cáo tiếp quản ngân hàng Đại Tín thì ngân hàng cũng lỗ, không có tiền mặt, các bị cáo vẫn tiếp tục kế thừa mọi trách nhiệm của Đại Tín, mọi khoản nợ phải trả ở thị trường 1 hay bất kỳ khoản nợ nào ở thị trường 2 đều chi trả đầy đủ, là trách nhiệm kế thừa ngân hàng.

Bị cáo Mai cho rằng, các số liệu lỗ của ngân hàng Đại Tín có thể chỉ rõ là phần lớn trách nhiệm trực tiếp là từ bà Hứa Thị Phấn, nguyên cố vấn cấp cao của Đại Tín, đại diện nhóm Phú Mỹ chuyển nhượng gần 85% vốn Đại Tín cho nhóm Thiên Thanh của Phạm Công Danh.

Bị cáo Mai cho rằng lỗi của mình là có nhưng số liệu để truy tố bị cáo tại thời điểm đó là chưa xuất hiện. Nên để nói rằng vì số liệu lỗ đấy mà không trả khoản tiền 4.500 tỷ đồng là hoàn toàn không có cơ sở.

Bị cáo Mai nêu về nguồn gốc khoản tiền 4.500 tỷ đồng, khi khoản tiền này chuyển vào VNCB, nếu không được công nhận ở vốn điều lệ, không nằm ở vốn chủ sở hữu thì chỉ còn một địa chỉ duy nhất là nợ phải trả, đó là về mặt hạch toán tài sản. Tiền vào có địa chỉ thì ngân hàng phải có trách nhiệm phải trả nợ, trả cho những người đã bỏ tiền vào ngân hàng để tăng vốn.

Tại tòa, bị cáo Mai cũng xin rút lại một phần nội dung trong đơn kháng cáo. Theo đó, bị cáo rút nội dung xin xem xét việc thu hồi các khoản tiền lãi vay của các doanh nghiệp vay tại 3 ngân hàng vì đây là vật chứng vụ án.

Bị cáo Mai Hữu Khương, thành viên Hội đồng quản trị VNCB tham gia đối đáp. Về quan điểm của VKS cho rằng 4.500 tỷ đồng không phải đối tượng giải quyết vụ án, bị cáo Khương cho rằng khi xem xét vật chứng vụ án phải xem xét có mối quan hệ nhân quả trong hành vi sai phạm của vụ án. Vật chứng vụ án hình thành khi hậu quả xảy ra, nếu hậu quả chưa xảy ra thì chưa được coi là vật chứng.

Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) hậu quả xảy ra khi 3 ngân hàng tất toán tiền gửi để thực hiện trả nợ thì lúc đó vụ án đã xảy ra. Trong khi đó, theo lập luận của đại diện VKS 4.500 tỷ đồng khi vay từ Ngân hàng BIDV đã coi là vật chứng vi phạm, bị cáo cho rằng là không đúng. Hậu quả xảy ra là cuối cùng, khi tiền về tới VNCB, lúc 3 ngân hàng cắt tiền gửi, 4.500 tỷ đồng  này mới gọi là vật chứng vụ án. Bị cáo cho rằng quan điểm của VKS là không phù hợp.

Về nội dung VKS cho rằng tiền 4.500 tỷ đồng sau khi về VNCB, hòa chung nguồn tiền, ông Danh chỉ đạo sử dụng hết. Bị cáo Khương cho rằng như vậy là không phù hợp. Tại cáo trạng, cũng như cáo trạng bổ sung, VKSND Tối cao chỉ ra rằng tại thời điểm khởi tố vụ án VNCB vẫn còn 2.300 tỷ đồng tiền mặt, như vậy xác định không còn tiền là xác định không đúng.

Bị cáo Khương nêu, ngân hàng hoạt động theo luật các TCTD, mà theo luật này có nêu rất rõ vai trò trách nhiệm của chủ tịch HĐQT, ban điều hành, ban điều hành ủy nhiệm cho các giám đốc, các trưởng phòng giao dịch, các kiểm soát viên. Không có căn cứ nào cho thấy số tiền 4.500 tỷ đồng do ông Danh chỉ đạo và các khoản thanh toán hoàn toàn vì mục đích của ngân hàng. Bị cáo cho rằng nếu không có 4.500 tỷ đồng thì hiện giờ CB đang lãnh tất cả các khoản nợ hơn 4.800 tỷ đồng. Nên nói việc ông Danh chỉ đạo sử dụng hết là hoàn toàn không phù hợp.

HUYỀN TRÂM