BizLIVE - Năm 2019 kết thúc, bức tranh ngành ngân hàng Việt Nam cũng dần định hình, qua những con số lần lượt công bố và cập nhật gần nhất.
Ngân hàng Việt Nam 2019 qua những con số
Tại hội nghị toàn ngành đầu năm, Thống đốc Lê Minh Hưng nhận định: Các yêu cầu nhiệm vụ đặt ra với ngành ngân hàng trong 2019 là rất nặng nề.
1,89% là tỷ lệ nợ xấu nội bảng toàn hệ thống tính đến cuối tháng 12/2019. Con số này đã giảm khá mạnh so với mức 2,46% cuối năm 2016. Tuy không mấy thay đổi so với một năm trước (cuối năm 2018), nhưng vẫn dưới mốc 2% mà Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu kiểm soát. 
Một chuyển động khá tích cực là cho tới thời điểm hiện tại, đã có 11 ngân hàng thương mại công bố tất toán xong trước hạn nợ xấu bán sang Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) trước đây.
305,7 nghìn tỷ đồng là con số nợ xấu ước tính toàn hệ thống đã xử ký được xác định theo Nghị quyết 42 (không bao gồm sử dụng dự phòng rủi ro và khoản bán nợ cho VAMC thông qua phát hành trái phiếu đặc biệt) trong khoảng thời gian từ 15/8/2017 đến cuối tháng 12/2019.
Tính trung bình, mỗi tháng toàn hệ thống xử lý được khoảng 10,5 nghìn tỷ đồng, cao hơn mức 4,9 nghìn tỷ đồng so với kết quả xử lý nợ xấu trung bình từ 2012 – 2017 trước khi Nghị quyết 42 có hiệu lực.
13% là tỷ lệ tăng trưởng tín dụng ước tính cả năm 2019, thấp hơn 1 điểm phần trăm so với chỉ tiêu đưa ra đầu năm là 14%. Đây cũng là năm có tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp nhất kể từ năm 2013 (12,52%).
Ứng với mức tăng trưởng trên, tổng dư nợ của hệ thống các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế kết năm 2019 đã trên mức 8,1 triệu tỷ đồng.
13,994 tỷ USD là thặng dư của cán cân thanh toán tổng thể tính đến hết quý III/2019. Hiện con số của quý IV/2019 vẫn chưa được công bố, tuy nhiên, với việc Ngân hàng Nhà nước liên tục mua vào ngoại tệ trong quý cuối cùng của năm, dự báo 2019 sẽ là năm cán cân thanh toán tổng thể đạt thặng dư kỷ lục.
79 tỷ USD là mức dự trữ ngoại hối của Việt Nam tính đến cuối năm 2019. Đây cũng là mức dự trữ ngoại hối cao nhất từ trước tới nay. Trong đó, riêng trong năm 2019, Ngân hàng Nhà nước đã mua vào 20 tỷ USD. 
0,99% là mức tăng bình quân năm 2019 của chỉ số giá đô la Mỹ so với năm 2018, theo số liệu của Tổng cục Thống kê. Đây cũng được xem là một trong những kết quả nổi bật của Ngân hàng Nhà nước trong điều hành và giữ ổn định tỷ giá năm qua.
8,48% là mức tăng của tổng tài sản của các tổ chức tín dụng tính đến 30/9/2019 so với cuối năm 2018; tổng quy mô theo đó đã vượt 12 triệu tỷ đồng. 
Trong đó, tổng tài sản có của khối ngân hàng thương mại nhà nước (gồm Agribank, VietinBank, Vietcombank, BIDV, Ngân hàng Xây dựng, Dầu khí Toàn cầu, ngân hàng Đại Dương) vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất (43,4%), đạt hơn 5,2 triệu tỷ đồng.
Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản của nhóm này chỉ đạt 7,12%, thấp hơn khá nhiều so với tốc độ tăng trưởng của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần là 9,06% (đạt gần 5 triệu tỷ đồng) và nhóm ngân hàng liên doanh nước ngoài là 11,36% (đạt gần 1,3 triệu tỷ đồng).
12,02% là tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của toàn hệ thống tính đến 30/9/2019, tiếp tục giảm so với mức 12,14% hồi cuối năm 2018. 
Trong đó, CAR của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục ở mức thấp nhất, đạt 9,78%, nhích nhẹ so với mức 9,52% hồi cuối năm ngoái.
Trong khi đó, CAR nhóm ngân hàng thương mại cổ phần lại giảm từ mức 11,24% xuống còn 10,81%. 
27,35% là tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn của toàn hệ thống tính đến cuối tháng 9/2019, tiếp tục giảm so với mức 28,4% hồi cuối năm 2018, cũng như nằm rất sâu dưới ngưỡng cho phép hiện nay là 40% và thậm chí đi trước cả ngưỡng 30% mà Ngân hàng Nhà nước lập lộ trình siết lại trong hai năm tới.
Tuy nhiên, tỷ lệ trên ở mức thấp do tính bình quân với tham số kéo xuống bởi nhóm ngân hàng nước ngoài và chi nhánh ngân hàng nước ngoài do nhóm này không dùng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn. 
Trong khi đó, tỷ lệ này tại các ngân hàng thương mại nhà nước là 29,96% và ngân hàng thương mại cổ phần là 30,89%; tại các công ty tài chính, cho thuê tài chính là 35,39%.
18 là số ngân hàng thương mại đã được Ngân hàng Nhà nước chính thức công nhận đã áp dụng Basel II (theo Thông tư 41) trước thời điểm 01/01/2020, trong đó có 1 thành viên công bố đã áp dụng cả ba trụ cột của Basel II.

TRẦN THÚY