Lãi suất trong ngắn hạn sẽ vẫn “nóng”?

Trần Thúy

15:07 06/12/2018

BizLIVE - Hiện tại, lãi suất huy động kỳ hạn dưới 6 tháng hầu hết đã đẩy lên mức trần 5,5%/năm trong khi kỳ hạn 6 đến dưới 12 tháng dao động 5,7%-7,6%,..

Lãi suất trong ngắn hạn sẽ vẫn “nóng”?

Ảnh minh họa.

Nhiều yếu tố cùng xuất hiện khiến thanh khoản sụt giảm
Lãi suất VND trên thị trường liên ngân hàng sau khi tăng mạnh vào cuối tháng 10 đã duy trì mặt bằng cao trong suốt tháng 11. 
Theo đó, kỳ hạn qua đêm dao động trong vùng 4,7-4,9%/năm, có lúc đạt tới 4,96%/năm- mức đỉnh trong vòng 5 năm gần đây; kỳ hạn 3 tháng đã vượt và duy trì ở mức trên 5%/năm trong suốt cả tháng, hiện ở mức 5,2%/năm – chỉ còn cách lãi suất trần huy động với kỳ hạn dưới 6 tháng 30bps. 
Lãi suất trên thị trường 1 cũng tăng ở tất cả các kỳ hạn, mạnh nhất là ở kỳ hạn từ 6 tháng trở lên. Tuy nhiên, mức độ tăng lãi suất ở từng ngân hàng khác nhau nên chênh lệch lãi suất huy động giữa các NHTM là khá lớn. 
Hiện tại, lãi suất huy động kỳ hạn dưới 6 tháng hầu hết đã đẩy lên mức trần 5,5%/năm trong khi kỳ hạn 6 đến dưới 12 tháng dao động 5,7%-7,6%, kỳ hạn 12-13 tháng dao động từ 6,8-8,0% tùy vào từng ngân hàng. 
Trong tháng 11, NHNN đã bơm ròng 1.885 tỷ đồng. Trong đó, kênh tín phiếu có 2.100 tỷ đồng đáo hạn trong khi không có bất kỳ đợt phát hành nào. Trái lại, kênh mua bán kỳ hạn hoạt động mạnh với bình quân gần 11.000 tỷ đồng/ngày cho mỗi chiều bơm/hút. 
Tính chung lại, NHNN hút ròng qua kênh này 215 tỷ đồng. Khối lượng OMO lưu hành duy trì ở mức cao gấp 1,6-2 lần khối lượng tín phiếu. 
Trong báo cáo thị trường tiền tệ tháng 11/2018 mới công bố, các chuyên gia tại bộ phận phân tích SSI Retail Research cho rằng, có nhiều yếu tố cùng xuất hiện khiến thanh khoản NHTM sụt giảm như yếu tố mùa vụ (tín dụng tăng trong khi huy động thường giảm vào những tháng cuối năm), mua ngoại tệ phục vụ nhu cầu thị trường và giải ngân vốn ngân sách tăng làm giảm lượng tiền gửi của KBNN. 
Thêm vào đó, các NHTM cũng cần chuẩn bị cho yêu cầu giảm giới hạn tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 45% hiện nay xuống 40% từ 1/1/2019. Vì vậy, theo đánh giá của các chuyên gia, thì mặt bằng lãi suất trong ngắn hạn sẽ đứng ở mức cao. 
Trong khi đó, nhìn dài hơn, các chuyên gia cho rằng, có một số yếu tố hỗ trợ cho sự ổn định lãi suất. Chỉ số CPI tháng 11 của Việt Nam đã giảm 0,29% MoM, ở mức 3,46% YoY – thấp hơn khá nhiều mức mục tiêu là 4%, giá dầu sụt giảm mạnh trong suốt 2 tháng qua cũng giải tỏa bớt áp lực với lạm phát, chủ tịch FED có những phát biểu mềm dịu hơn đối với kế hoạch tăng lãi suất. 
“Mặc dù vậy, những biến số này có thể thay đổi rất nhanh chóng nên khó có thể đưa ra nhận định về lãi suất trong trung và dài hạn vào thời điểm này”, SSI Retail Research cho biết.
VND ổn định so với USD và tăng giá so với hầu hết các đồng tiền quan trọng khác
Trong tháng 11, NHNN đã nâng tỷ giá trung tâm thêm 24 đồng/USD – gấp đôi so với mức nâng trong tháng 10, hiện ở mức 22.750 đồng/USD. Tuy nhiên, tỷ giá chính thức giảm 25 đồng/USD về mức 23.275/23.365 đồng/USD và tỷ giá tự do giảm 60-65 đồng/USD về mức 23.405/23.420 đồng/USD, thu hẹp chênh lệch giữa 2 tỷ giá này. 
Theo SSI Retail Research, bên cạnh yếu tố hỗ trợ từ cuộc gặp Mỹ -Trung và chênh lệch lãi suất VND-USD vẫn duy trì ở mức cao (trên 2%/năm), việc NHNN triển khai bán kỳ hạn ngoại tệ được hủy ngang vào 2 ngày 23 và 26/11 đã có tác động khá lớn về mặt tâm lý, giảm bớt nhu cầu nắm giữ ngoại tệ cũng như tài trợ thanh khoản VND cho các NHTM. 
Bên cạnh đó, NHNN đã triển khai lấy ý kiến với dự thảo thông tư sửa đổi thông tư 24/2015/TTNHNN theo hướng thu hẹp đối tượng được vay ngoại tệ trên cơ sở làm chi tiết thêm về kỳ hạn và mục đích vay. Nhờ đó, tỷ giá USD/VND duy trì ổn định và giảm nhẹ về cuối tháng.
Nguồn thu ngoại tệ có dấu hiệu sụt giảm khi cán cân thương mại tháng 11 thâm hụt khoảng 0,4 tỷ USD, giải ngân vốn FDI trong tháng là 1,4 tỷ USD, giảm 0,45 tỷ USD so với tháng trước. Tuy nhiên, tổng vốn FDI giải ngân 11 tháng 2018 là 16,5 tỷ USD, vẫn tăng 3,1% YoY. 
Việc giữ tỷ giá USD/VND ổn định trong bối cảnh USD lên giá mạnh đã khiến cho VND lên giá trong tương quan với các đồng tiền khác. Chỉ xét từ tháng 6 đến nay, VND đã tăng giá với đồng tiền của các nước đối tác quan trọng là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và EU; mức tăng giá lần lượt là 5,6%, 2%, 1,2% và 0,4%.

TRẦN THÚY

Bảng giáThị trường

VN-Index 942.12 ▼ -9.92 (-1.04%)

 
VN-Index 942.12 -9.92 -1.04%
HNX-Index 106.34 -0.31 -0.29%
UPCOM 53.11 -0.29 -0.54%
DJIA 25,283.0 -12.87 -0.05%
Nasdaq 7,157.39 20.83 0.29%
Nikkei 225 23,849.99 135.46 0.57%
FTSE 100 7,724.08 27.57 0.36%