BizLIVE - Ảnh hưởng dịch COVID-19 nên từ vụ Đông Xuân vừa qua nhu cầu gạo nội địa lẫn xuất khẩu đều tăng đã đẩy giá lúa gạo tăng bình quân 15% so với khi chưa có dịch, nhờ vậy người nông dân tăng thu nhập. Liệu giá cao có được duy trì? 
Thị trường lúa gạo đang quay về ở mức giá hợp lý?
Ông Nguyễn Chánh Trung - ảnh nhân vật cung cấp
BizLIVE đã trao đổi với ông Nguyễn Chánh Trung, Phó Tổng giám đốc Tân Long Group về vấn đề này.
Trước đây giá lúa thường luôn cách giá lúa thơm từ 1.000 - 1.500 đồng/kg, nhưng nay 2 loại giá này đang có giá tương đương nhau. Câu chuyện này bây giờ mới có, theo ông đâu là nguyên nhân? 
Khi dịch Covid-19 xảy ra nhu cầu gạo nội địa lẫn xuất khẩu đều tăng. Ở Miền Bắc, trước đây các đầu mối đi qua nhiều phân khúc mới ra thị trường nên giá bình ổn, nhưng từ tháng 3/2020, các nhà kinh doanh gạo ở Miền Bắc vào Đồng bằng sông Cửu Long đặt hàng trực tiếp với các nhà máy xay xát nhỏ và chỉ mua vài container.
Mua ít nên họ dễ dàng chấp nhận biên độ giá dẫn đến giá gạo tăng, đến cuối quý 3/2020 tồn kho gạo gần như không còn nằm ở các nhà máy, khi không có hàng các nhà sản xuất phải tìm nguồn hàng để mua nên đẩy giá tăng. Năm 2020 nông dân và nhà sản xuất đều có lợi nhuận tốt, nên trong quá trình thương lượng đàm phán không mang tâm lý “chín rộ sẽ không có người mua”, vì vậy, trước và sau nghỉ Tết Nguyên Đán giá lúa tươi cao hơn bình quân các năm.
Trước đây, giá lúa thường (IR 504040) trên dưới 4.500 đồng/kg, lúa thơm trên dưới 5.500 đồng/kg, cuối năm ngoái và đầu năm nay đã tăng 1.500 đến 2.000 đồng/kg, tương đương 15%. Lúa IR 50404 luôn có nhu cầu ổn định trên thị trường nhưng nay diện tích sản xuất giảm nhiều, cung không đủ cầu giá được đẩy lên 6.200 - 6.500 đôngf/kg, còn lúa thơm chỉ khoảng 6.600 - 6.700 đồng/kg. Chưa bao giờ có chuyện giá lúa thơm chỉ đắt hơn lúa thường vài trăm đồng/kg, thậm chí tương đương như năm nay.
Phân tích cơ cấu gạo xuất khẩu cho thấy, gạo IR 50404 có chỗ đứng ở thị trường Philippines khá vững chắc, nhưng khoảng 2 năm nay Philippines đã chuyển từ gạo IR 50404 sang OM 5451. Gạo OM 5451 có chất lượng tương đương IR 50404 nhưng giá khá cao nên họ chuyển phẩm cấp cao hơn là gạo Đài thơm 8 (DT 8), bây giờ Philippines nhập chủ yếu loại gạo này.
Gạo IR 50404 không bán xuất khẩu nhưng nội địa vẫn có nhu cầu làm bánh, bún, bột,… do giá cao nên mới có thực tế nhập khẩu gạo từ Ấn Độ để làm bánh, làm bún.
Có ý kiến cho rằng giá lúa gạo trên thị trường “nhảy” là do Tân Long “ăn hàng” mạnh, ông nghĩ gì về ý kiến này?
Thực ra Tân Long chỉ ảnh hưởng thị trường chứ không quyết định được thị trường, lúa là của nông dân chúng tôi chỉ thuận mua vừa bán. Thẳng thắn mà nói Tân Long không áp đặt được giá với nông dân, nếu bà con kêu giá hơi cao nếu thấy hợp lý chúng tôi sẽ mua. 
Ví dụ, nhận định giá lúa tươi IR 50404 hôm nay 6.500 đồng/kg là quá cao, làm gạo thành phẩm là 11.500 đồng/kg, nhưng vì kênh bán hàng của chúng tôi hấp thụ được chúng tôi sẽ mua để đảm bảo trong 3 tháng tới không bị thiếu hàng. 
Tham gia gạo nội địa nên Tân Long phải đảm bảo đủ danh mục hàng hóa, còn khách hàng thì đảm bảo được quá trình sản xuất kinh doanh. Song, chúng tôi cũng lường trước nếu mua thừa và giá cao khách hàng sẽ không mua nữa vì thị trường luôn có độ trễ nhất định.
Gạo nội địa có phổ rất rộng nên Tân Long mua rất nhiều loại và kinh doanh tất cả các loại gạo, như: ST24, ST25, ST21, Jasmine, Nàng hoa và DT 8, Japonica, IR 50404 và một phần OM 5451, tấm thơm và một phần tấm IR 50404 kể cả gạo Campuchia. Đối với gạo DT 8 Tân Long có 3 thị trường chính tiêu thụ rất tốt là nội địa, Châu Phi và Philippines.
Trong năm 2020 và 2 tháng đầu năm 2021 giá gạo luôn đứng ở mức cao, khi thị trường định hình lại giá lúa gạo sẽ như thế nào?
Thông thường sau khi xuất khẩu 6 triệu tấn gạo hơn thì lượng lúa gạo tồn kho đệm trong dân khoảng hơn 1 triệu tấn nên rất an toàn về mặt giá thành. Nhưng năm nay tồn kho quá phân tán, các nhà máy lớn khi giá cao đã chốt bán ra hết, tồn kho của Tân Long cũng ở mức thấp do chuẩn bị vụ mùa mới đổi hàng. 
Giá lúa gạo cao các doanh nghiệp bị áp lực mua vào có khả năng giá sẽ giảm, người tiêu dùng trong nước kéo giá lên nhưng giá lên tới cận trên thì bị giá xuất khẩu khống chế, nếu vượt qua mức đó không ra hàng được và giá giảm. Giá giảm những doanh nghiệp dự trữ quy mô lớn sẽ bị tổn thương.
Là doanh nghiệp kinh doanh lớn, đánh thị trường rộng vừa nội địa và xuất khẩu Tân Long cũng có trạng thái tâm lý như các doanh nghiệp quốc tế nếu mua vào nhiều lúc giá cao sẽ có rủi ro, thị trường nội địa chắc hấp thụ được nhưng xuất khẩu thì không chắc, dẫn đến tâm lý giá đang cao không doanh nghiệp nào đẩy mạnh mua vào mà chỉ mua cầm chừng, chúng tôi cũng không đàm phán hay o ép nông dân bán giá thấp vì làm như vậy là không tốt. Từ năm 2020 đến nay chúng tôi theo chủ trương là bao tiêu theo giá thị trường và bà con rất vui vẻ với cách làm này.
Làm việc với nhiều nhà buôn lớn tôi thấy tâm lý họ đắn đo “liệu rằng giá gạo Việt Nam có cao mãi hay không”, ai cũng biết giá gạo cao sẽ không trụ mãi vì nhà nhập khẩu mua vào họ còn phải bán ra. Bên cạnh đó, gạo Việt Nam còn cạnh tranh với gạo Thái Lan, nếu Thái Lan cũng giữ giá cao thì tốt nhưng nếu họ kéo giá xuống Việt Nam phải chờ họ bán hết gạo mới bán được. Gạo Ấn Độ đang có giá rất cạnh tranh, chênh lệch với gạo Việt Nam và Thái Lan bình quân 80 - 100 USD/tấn, duy trì mặt bằng này gần cả năm nay.
Giá gạo cao doanh nghiệp vẫn trong tâm thế “mua tới đâu bán tới đó”, không dám mua gần bán xa cho dù có canh độ trễ nhất định, và dù vụ Đông Xuân chưa rộ để điền đủ gạo cho tồn kho đệm, nhưng đã có dấu hiệu sụt giảm. Những chào bán giao hàng từ giữa đến cuối tháng 3 đều giảm khoảng 10 USD/tấn, quy giá lúa giảm khoảng 300đồng/kg.
Xin cảm ơn ông!

NGUYỄN HUYỀN