Sau 10 năm phát triển bùng nổ, Việt Nam ở đâu trên bản đồ du lịch thế giới?

Trung Mến

14:18 04/07/2019

BizLIVE -

Số lượt khách quốc tế đến Việt Nam tăng gần bốn lần trong một thập kỷ, từ 4,2 triệu năm 2008 lên đến 15,5 triệu năm 2018.

Sau 10 năm phát triển bùng nổ, Việt Nam ở đâu trên bản đồ du lịch thế giới?
Việt Nam được trải qua giai đoạn bùng nổ cả về số lượng khách du lịch trong nước và quốc tế trong thập kỷ qua. Số lượt khách quốc tế đến Việt Nam tăng gần bốn lần trong một thập kỷ, từ 4,2 triệu năm 2008 lên đến 15,5 triệu năm 2018. 
Tuy nhiên, tăng trưởng về lượt khách quốc tế gia tốc mạnh trong 3 năm qua, từ mức bình quân khoảng 9% mỗi năm trong giai đoạn 2008-2015 lên đến bình quân 25% giai đoạn 2016-2018.
Du lịch trong nước của Việt Nam, với số lượng khách lớn hơn nhiều so với khách quốc tế đến từ nước ngoài, cũng tăng mạnh không kép - tăng gấp bốn lần về số lượt khách trong nước, từ 20,5 triệu năm 2008 lên 80 triệu năm 2018, nhờ sự phát triển nhanh chóng của tầng lớp trung lưu ở Việt Nam, đó là giới thích đi du lịch và có khả năng chi trả tốt hơn để đi lại bằng đường hàng không trong điều kiện vé bay báy giá rẻ trong nước tăng mạnh.
 
So với các quốc gia đang phát triển khác ở Đông Nam Á, lượng khách du lịch quốc tế ở Việt Nam tăng mạnh đã tạo điều kiện để quốc gia chiếm lĩnh dần thị phần về cầu du lịch trong khu vực, đưa số lượt khách lên sát mức hàng đầu trong khu vực. 
Trong 5 năm và 10 năm qua, tăng trưởng về lượt khách quốc tế vào Việt Nam liên tục cao hơn so với đối thủ cạnh tranh là các quốc gia đang phát triển tại Đông Nam Á, ngoại trừ so với Myanmar có tốc độ tăng trưởng 10 năm cao hơn vì có điểm khởi đầu thấp về lượt du khách. 
Kết quả là, Việt Nam đã và đang từng bước chiếm lĩnh thị phần, không chỉ tính trên tổng lượt du khách đến với các quốc gia đang phát triển Đông Nam Á, mà cả trên tổng lượng du khách đến toàn bộ khu vực Đông Á, bao gồm cả các thị trường du lịch lớn hơn và phát triển hơn như Singapore, Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc. Việt Nam đến nay đã đuổi kịp Indonesia về tổng lượt khách quốc tế đồng thời đang thu hẹp khoảng cách với các quốc gia đứng đầu về số lượt khách trong khu vực - Malaysia và Thái Lan. 
 
Tính theo đầu người (nghĩa là có xét đến quy mô tương quan của quốc gia), số lượt khách của Việt Nam dường như còn nhiều khả năng tăng trưởng hơn so với Malaysia và Thái Lan, nơi có số lượt khách đã lên xấp xỉ lần lượt 80% và 55% dân số quốc gia của họ.
Thị phần trong khu vực của Việt Nam đang được mở rộng phần nào phản ánh những cải thiện gần đây trong nhiều khía cạnh về năng lực cạnh tranh du lịch của quốc gia. Chỉ số năng lực cạnh tranh về du lịch của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) cho điểm và sắp xếp thứ hạng quốc gia dựa trên nhiều yếu tố về thể chế và cơ sở vật chất liên quan đến du lịch. 
Xét tổng điểm của chỉ số cho năm 2017, Việt Nam xếp thứ 67 trên toàn cầu, ngang hàng với mức điểm bình quân của các đối thủ cạnh tranh còn lại trong khu vực, nhưng chưa đạt kết quả cao nhất trong khu vực (nghĩa là “tiên phong” trong khu vực) ở bất kỳ nội dung nào về năng lực cạnh tranh. 
Nhưng kể từ năm 2015 (lần đánh giá trước đó của chỉ số), Việt Nam đã có những cải thiện chung mạnh mẽ nhất về năng lực cạnh tranh so với các quốc gia so sánh trong khu vực, với mức điểm nhảy vọt ở các nội dung như mức độ sẵn sàng về CNTT&TT, độ mở cửa quốc tế, an ninh và an toàn, cơ sở hạ tầng cảng và mặt đất.
Bên cạnh những thành tích trên, vẫn còn đó những điểm yếu quan trọng về năng lực cạnh tranh tương quan. Việt Nam vẫn đứng sau, cách xa các nước khác trong khu vực về dịch vụ du lịch và cơ sở hạ tầng hàng không, cũng như ưu tiên cho ngành du lịch. 
Vế sau chủ yếu liên quan đến tỷ lệ phân bổ chi tiêu chính phủ tương đối thấp cho ngành du lịch (1,4% tổng chi tiêu của Chính phủ năm 2017, đứng thứ 114 trong số các quốc gia so sánh trên toàn cầu), mặc dù đã tuyên bố về tầm quan trọng chiến lược, phạm vi và mức độ đầy đủ về số liệu thống kê ngành du lịch của Việt Nam còn hạn chế (đứng thứ 116 trên toàn cầu). 
So với toàn cầu, điều quan trọng cần lưu ý là điểm số kém của Việt Nam trong nội dung bền vững về môi trường (đứng thứ 129 trên toàn cầu) - mặc dù vẫn ngang hàng với các quốc gia so sánh trong khu vực, toàn bộ khu vực đều đạt kết quả yếu trong nội dung đánh giá này. 
 
Cuối cùng trong nội dung về mức độ mở cửa quốc tế, cơ chế thị thực (visa) của Việt Nam mặc dù phần nào đã thông thoáng hơn trong những năm gần đây, nhưng vẫn đứng sau so với các đối thủ cạnh tranh quan trọng trong khu vực có chính sách thị thực cởi mở hơn.
Đa số khách du lịch đến Việt Nam là khách đến từ khu vực Đông Bắc Á, cụ thể gồm Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản. Cộng lại, cả ba quốc gia trên chiếm 60% số lượt khách quốc tế của Việt Nam trong năm 2018. Một tỷ lệ lớn du khách (11%) cũng đến từ các quốc gia Đông Nam Á lân cận. 
Những thị trường lớn khác về nguồn du khách là Mỹ (4,4%) và Nga (3,9%), phản ánh mối quan hệ lịch sử thời trước của họ với Việt Nam.
Các thị trường nguồn du khách chủ đạo nêu trên không thay đổi nhiều trong những năm qua, nhưng tỷ lệ du khách đến từ Trung Quốc và Hàn Quốc tăng đột biến - nhưng đó lại là phân khúc du khách đem lại tỷ lệ lợi nhuận tương đối thấp. 
Các thị trường nguồn khách hàng đầu đạt tốc độ tăng trưởng hai con số, xoay quanh 10-10% từ năm 2015-2018, nhưng riêng thị trường Trung Quốc và Hàn Quốc đạt tốc độ tăng trường bình quân khoảng 43% trong giai đoạn đó, tốc độ tăng như vậy là rất lớn trong điều kiện số lượng khách đến từ các quốc gia đó vốn đã cao và là thị trường nguồn du khách đã chín muồi đối với Việt Nam. 
Kết quả là tỷ lệ tổng lượng khách đến từ Trung Quốc và Hàn Quốc tăng mạnh từ 31% năm 2012 lên 55% năm 2018. Mặc dù xu hướng này làm tăng tổng lượng khách, nhưng du khách đến từ hai thị trường này có xu hướng lưu trú ngắn ngày hơn so với du khách từ các đường xa như châu Âu và Mỹ, riêng với khách Trung Quốc thì họ còn chi tiêu mỗi ngày tương đối ít hơn. 
Vì thế, sự thay đổi nêu trên làm giảm tổng tỷ lệ lợi nhuận kinh tế của du khách quốc tế đến với Việt Nam, với bằng chứng là mức chi tiêu bình quân hàng ngày của du khách cơ bản không tăng (ở mức 96 US$), thời gian lưu trú bình quân của du khách giảm xuống (từ 11,1 ngày năm 2013 xuống còn 10,2 ngày năm 2017).
 
Đồng thời, tuy cơ cấu quốc tịch của du khách nước ngoài trở nên tập trung hơn, nhu cầu về mục đích du lịch và điểm đến vẫn được giữ tương đối ổn định. Trên hai phần ba du khách quốc tế tiếp tục đến Việt Nam chủ yếu để nghỉ và giải trí như trong hầu hết thập kỷ qua, phân khúc khách đến vì mục đích công việc hoặc MICE (hội nghị, hội thảo, khen thưởng và sự kiện) dường như không tăng về quy mô tương quan. 
Quan trọng hơn, khách quốc tế nhìn chung tiếp tục tập trung vào các địa điểm quen thuộc trong nước. Tuy tỷ lệ khách quốc tế lựa chọn đến với thành phố Hồ Chí Minh giảm nhẹ trong 5 năm qua, Hà Nội đang trở thành điểm đến ngày càng quen thuộc (một phần vì đó là cửa ngõ vào Việt Nam), bên cạnh các thành phố có bãi biển như Đà Nẵng và Nha Trang (Khánh Hòa). Trong khi đó, các tỉnh như Quảng Nam (là địa phương của Phố Cổ Hội An), Quảng Ninh (địa phương đi Vịnh Hạ Long) và Thừa Thiên Huế (với đặc trưng Cố Đô Huế) nhìn chung vẫn giữ được vị thế điểm đến quen thuộc. 
Mặc dù chưa có tiêu chí hoặc chỉ tiêu chính xác về phân khúc “thị trường khách đại chúng” ở Việt Nam, nhưng du khách tiếp tục có xu hướng lựa chọn những điểm đến đã định hình là (1) nơi phù hợp cho hầu hết các gói du lịch, (2) có yếu tố đô thị chi phối, và (3) thường có các hình thức lưu trú đa dạng và mức giá phù hợp với nhiều tầng lớp du khách. Điều đó cho thấy phần lớn tăng trưởng về lượt khách vào Việt Nam gần đây có bản chất là thị trường khách đại chúng.
Thiếu sản phẩm đa dạng cũng như điểm du lịch đang gây áp lực cho những điểm đến phổ biến nhất, làm tăng rủi ro quá tải. Do tỷ lệ du khách quốc tế tăng cao trong thời gian qua lại trùng hợp thời kỳ du lịch trong nước phát triển mạnh, các điểm đến phổ biến của du khách trong nước đang phải đối mặt áp lực quá tải du lịch ngày càng tăng, đặc biệt trong các tháng có sự trùng lặp về mùa du lịch của khách trong nước và quốc tế, bao gồm thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Khánh Hòa, Quảng Ninh, Quang Nam và các địa phương khác. 
 
Thực chất, khi nhìn vào tỷ lệ tổng lượt khách (trong nước và quốc tế) tính trên đầu người ở các điểm đến đó - chỉ số gián tiếp để đo lường mật độ du khách - ta có thể thấy rõ mật độ du khách tăng mạnh trong 5 năm qua từ mức vốn đã cao. Lưu lượng du khách so với dân số tăng lên cũng được phản ánh qua một số chỉ tiêu cụ thể về quá tải du lịch. 
Một nghiên cứu gần đây của TravelBird25, nhà cung cấp dịch vụ lữ hành trực tuyến, xếp Hà Nội đứng thứ 5 trên thế giới trong danh sách các thành phố có rủi ro cao về quá tải du lịch và gặp áp lực về năng lực đón du khách, đứng sau những điểm nóng về quá tải du khách như Barcelona, Amsterdam và Venice.
Tương tự, một đánh giá phối hợp giữa McKinsey và WTTC về quá tải ở các điểm đến du lịch toàn cầu đã xếp thành phố Hồ Chí Minh vào nhóm ngũ vị phân hàng đầu về các thành phố có rủi ro cao về trải nghiệm của du khách bị xuống cấp do quá tải.
Thông tin trong bài viết được lấy từ báo cáo Điểm lại do Ngân hàng Thế giới công bố.

TRUNG MẾN

Tin liên quan

Cùng dòng sự kiện