BizLIVE -

Một phần tư thế kỷ đã đi qua tính kể từ ngày 11/7/1995 khi Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam, hai nước đã đạt được quá nhiều bước tiến ngoạn mục.  

Đại sứ Mỹ Daniel J. Kritenbrink: “Quan hệ Việt Nam – Mỹ 25 năm qua là kết quả của sự nỗ lực không ngừng”
Đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông Daniel J. Kritenbrink- Ảnh: Tuổi Trẻ
Năm 2020 là một năm đặc biệt trong quan hệ Mỹ - Việt Nam bởi đó là năm kỉ niệm 25 năm quan hệ ngoại giao. Một phần tư thế kỷ đã đi qua tính kể từ ngày 11/7/1995 khi Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam, quan hệ hai nước đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trong cả kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa, xã hội. 
Nhân sự kiện này, BizLIVE sẽ có chùm bài kỷ niệm 25 năm quan hệ Mỹ - Việt, dưới đây là bài bình luận đầu tiên của đại sứ Mỹ tại Việt Nam, ông Daniel J. Kritenbrink, dưới đây là toàn bộ nội dung bài viết:
“Năm 1995, khi Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bình thường hoá quan hệ ngoại giao của Mỹ với Việt Nam, hai nước chúng ta gần như không có quan hệ về thương mại và quan hệ giữa nhân dân hai nước còn rất hạn chế. Ngày nay, hai nước chúng ta là đối tác tin cậy với tình hữu nghị được xây dựng trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Khi nhìn vào những gì chúng ta đã cùng đạt được, tiến triển của quan hệ song phương Mỹ - Việt Nam trong 25 năm qua thật phi thường.
Những người tiền nhiệm của chúng ta đã gạt bỏ các khác biệt, nhìn nhận lịch sử và cam kết hướng về phía trước như những người bạn chứ không phải kẻ thù. Các cựu chiến binh và gia đình họ ở cả hai phía là những người đầu tiên đối mặt với quá khứ và bắt đầu xây dựng cầu nối để chính phủ hai nước có thể gắn kết thành công. Người Mỹ và người Việt đã bắt đầu làm việc cùng nhau để giải quyết các vấn đề nhân đạo và di sản chiến tranh nhiều năm trước khi bình thường hoá quan hệ. 
Kể từ năm 1988, các nhóm công tác của Mỹ và Việt Nam đã hợp tác để tìm kiếm và trao trả hài cốt những người lính đã ngã xuống, năm 1991, Văn phòng Tìm kiếm Tù binh và người mất tích của Bộ Quốc phòng Mỹ đã mở cửa tại Hà Nội. Trong nhiệm kì Tổng thống George H.W. Bush, Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) đã bắt đầu hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam thông qua Quỹ hỗ trợ Nạn nhân Chiến tranh Leahy. Từ năm 1993, Mỹ và Việt Nam đã hợp tác với nhau để giúp Việt Nam loại bỏ hiểm hoạ từ vật liệu chưa nổ (UXO).
Những bước đi đầu tiên đó đã đặt nền móng cho việc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao và mở cửa hai đại sứ quán tại Washington và Hà Nội vào năm 1995. Sau đó, vào năm 1997, Thượng viên Mỹ xác nhận Ngài Douglas "Pete" Peterson là Đại sứ đầu tiên của Mỹ tại Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Đại sứ Peterson, người đã từng là phi công của Không lực Mỹ trong cuộc chiến ở Việt Nam và có sáu năm là tù binh chiến tranh, đã dành cả nhiệm kì để hàn gắn và xây dựng một mối quan hề dài lâu giữa Việt Nam và Mỹ. 
Ông nói, "Tôi muốn hàn gắn những vết thương giữa Mỹ và Việt Nam. Hai dân tộc chúng ta cùng chia sẻ một lịch sử đau thương. Không ai có thể thay đổi điều đó, nhưng chúng ta có thể cùng nhau làm rất nhiều việc cho tương lai. Và đó là lý do tôi có mặt ở Việt Nam." 
Đại sứ Peterson không phải người duy nhất tin rằng ông có thể làm "rất nhiều việc cho tương lai" của quan hệ Mỹ - Việt Nam. Các nhân vật quan trọng trong chính phủ hai nước, bao gồm cố Thượng Nghị sĩ John McCain, Thượng Nghị sĩ Patrick Leahy, cựu Ngoại trưởng John Kerry, Đại sứ Lê Văn Bàng, cố Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Cơ Thạch, cựu Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm và nhiều người khác đã ủng hộ cho một tương lai chung với lòng tin, hoà bình và thịnh vượng.
Ngày nay, trong nhiều lĩnh vực đa dạng như thương mại, phát triển, giáo dục, y tế, năng lượng và an ninh, Mỹ và một Việt Nam vững mạnh, thịnh vượng và độc lập đang làm việc cùng nhau với cam kết chung vì hoà bình và thịnh vượng. Như Ngoại trưởng Mike Pompeo đã nói: "trong quá khứ, chúng ta là đối thủ trên chiến trường. Nhưng ngày nay, quan hệ an ninh giữa chúng ta là quan hệ hợp tác." Quan hệ hợp tác đó diễn ra ở mọi cấp độ, từ các chuyến thăm cấp cao của Bộ trưởng Quốc phòng tới những quân nhân phục vụ trong quân đội của chúng ta. 
Ví dụ, trong hai năm qua, Lực lượng Tuần duyên Mỹ đã chuyển 18 tàu và một tàu tuần duyên nặng 3000 tấn, dài 115 mét cho Cảnh sát biển Việt Nam, các nhân viên Lực lượng Tuần duyên Mỹ đã cùng thuỷ thủ đoàn Việt Nam đưa tàu về bến. Trong chuyến thăm tới Hà Nội vào tháng 11 năm 2019, Bộ trưởng Quốc phòng Mark Esper đã đồng ý mở rộng chương trình này bằng cách chuyển thêm một tàu tuần duyên thứ hai vào năm 2020. 
Cũng trong năm ngoái, hai phi công Việt Nam đã tham gia huấn luyện cùng với các sĩ quan Mỹ trong Chương trình Lãnh đạo Hàng không của Không lực Mỹ. Và mùa hè năm ngoái, các quân nhân quân đội Mỹ đã cùng làm việc với những người đồng cấp Việt Nam để giúp hỗ trợ nhân đạo và trao đổi văn hoá trong khuôn khổ Chương trình Đối tác Thái Bình Dương 2019 tại tỉnh Nam Trung Bộ Phú Yên. Chúng tôi mong đợi tiếp tục thực hiện hoạt động này trong năm 2020. 
Quan hệ hợp tác của chúng ta vẫn tiếp tục phát triển trong nhiều lĩnh vực quan trọng khác, bao gồm gìn giữ hoà bình, rà phá bom mìn, hỗ trợ nhân đạo và ứng phó với thảm hoạ, thực thi pháp luật và cải cách hệ thống tư pháp hình sự.
Mỗi ngày, các lãnh đạo kinh tế Mỹ và Việt Nam phát triển các quan hệ thương mại vững mạnh giúp quan hệ đối tác thương mại càng phát đạt hơn. Chúng ta đã đi từ chỗ gần như không có giao thương vào 26 năm trước tới hơn 65 tỉ đô la kim ngạch thương mại hai chiều ngày nay. 
Nhiều công ty Mỹ đã đầu tư cả vào khu vực sản xuất và cơ sở hạ tầng của Việt Nam, và chúng tôi kì vọng rằng khoản đầu tư của họ vào năng lượng và cơ sở hạ tầng sẽ tiếp tục thậm chí tiến triển nhanh hơn trong khuôn khổ Tầm nhìn Kinh tế Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Cùng với nhau, các doanh nghiệp hai nước sẽ tiếp tục đổi mới sáng tạo và lớn mạnh. 
Tôi tin rằng sự hợp tác giữa chúng ta nhằm đảm bảo lưu thông hàng hoá và đầu tư tự do và công bằng giữa hai nước sẽ đưa tới kết quả là thịnh vượng cho cả hai. Và chúng ta cam kết không chỉ phát triển kinh tế mà còn phát triển bền vững. Để đạt được điều này, chúng tôi hợp tác với Việt Nam để bảo vệ và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên của các bạn - cùng với nhau chúng tôi đang đầu tư vào quản lý rừng bền vững; chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không được quản lý cũng như chống buôn lậu động vật hoang dã phi pháp và cải thiện chất lượng không khí và nước.
Đầu tư vào quan hệ đối tác trong tương lai của chúng ta nghĩa là cung cấp cơ hội để giới trẻ của chúng ta có thể bắt đầu xây dựng tình hữu nghị dài lâu. Hiện nay có gần 30.000 bạn trẻ Việt Nam đang học tập tại Mỹ và trong khuôn khổ chương trình Fulbright, Đại sứ quán Mỹ đang đài thọ cho 19 bạn trẻ người Mỹ dạy tiếng Anh tại các cộng đồng trên khắp Việt Nam. 
Trao đổi giáo dục là một trong những cách thức tốt nhất để phát triển sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa các nền văn hoá nhờ mối quan hệ với các bạn học, giáo viên và các gia đình bản địa. Tôi khuyến khích các sinh viên Mỹ tìm kiếm các chương trình trao đổi giáo dục tới Việt Nam cũng như học sinh Việt Nam tìm kiếm các cơ hội học tập tại Mỹ. Thậm chí bạn không cần phải bay qua cả Thái Bình Dương để giúp xây dựng các quan hệ giáo dục và văn hoá đó. Hay tham gia một trong số hàng trăm sự kiện văn hoá và giáo dục mà Trung tâm Mỹ ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức mỗi năm!
Quay lại với các hoạt động giúp tạo dựng nền tảng cho mối quan hệ này, tôi cần ghi nhận tất cả những gì chúng ta cùng đạt được cùng nhau để giải quyết các vấn đề nhân đạo và di sản chiến tranh. Từ năm 1988, hài cốt 727 người Mỹ mất tích trong chiến tranh đã được xác định nhờ sự hợp tác của các nhóm công tác của Mỹ và Việt Nam nhằm thu thập và trao trả hài cốt chiến sĩ đã khuất. Từ năm 1989, Mỹ đã cung cấp 100 triệu đô la để hỗ trợ cho người khuyết tật Việt Nam, giúp đỡ hàng triệu người Việt Nam khó khăn. 
Và từ năm 1993, Mỹ đã đóng góp hơn 120 triệu đô la để giúp Việt Nam rà phá các vật liệu chưa nổ. Quan hệ đối tác của chúng tôi với chính phủ Việt Nam trong lĩnh vực này đã rất thành công và trong hai năm qua đã không còn thương vong liên quan đến vật liệu chưa nổ tại tỉnh Quảng Trị được chính phủ Mỹ hỗ trợ. 
Năm 2018, USAID đã hoàn thành dự án xử lý ô nhiễm dioxin trị giá 110 triệu đô la tại sân bay Đà Nẵng và năm ngoái chúng tôi đã bắt đầu xử lý ô nhiễm dioxin tại sân bay Biên Hoà, điểm nóng ô nhiễm dioxin lớn cuối cùng ở Việt Nam.
Nhìn lại những gì Mỹ và Việt Nam đã cùng nhau đạt được trong 25 năm qua và thậm chí từ trước năm 1995, rõ ràng là năm nay hai nước chúng ta có rất nhiều điều để kỉ niệm. Nhưng tôi cho rằng quan trọng là nhìn nhận rằng công việc của chúng ta chưa kết thúc. 
Khi tôi nghe người ta nói rằng quan hệ Mỹ - Việt Nam là một điều kì diệu, tôi nhớ đến điều mà Đại sứ Peterson từng nói với tôi: trong khi tiến triển của chúng ta rất đáng kể nhưng đó không phải là một điều ngẫu nhiên. Mọi thứ chúng ta đạt được đều được xây dựng dựa trên dũng khí, thiện chí và nỗ lực từ những người đi trước. Mối quan hệ đối tác toàn diện vững mạnh chúng ta có ngày hôm nay là kết quả của vô số hoạt động và nhiều thập kỉ chân thành cống hiến của những cá nhân ở cả hai nước. Chúng ta đều có trách nhiệm tiếp tục xây dựng quan hệ dựa trên niềm tin và tình hữu nghị là nền tàng cho quan hệ của chúng ta, từ hợp tác an ninh tới kinh tế và giao lưu nhân dân. Tôi trông đợi được tiếp tục phát triển quan hệ song phương trong năm 2020 và trong 25 năm tiếp nữa trong quan hệ đối tác của chúng ta”.

NGỌC DIỆP