BizLIVE -

Tần suất và mức độ nghiêm trọng của tình trạng hạn hán ở hạ lưu đã tăng lên trong hai thập kỷ qua, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam hiện đang phải chịu đựng đợt hạn hán tồi tệ nhất trong lịch sử.

Có hay không việc Trung Quốc chặn dòng nước trên sông Mê Kông?
Ảnh: Mekong River Commission
Tác giả bài nghiên cứu là ông Brian Eyler, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu về Đông Nam Á thuộc trung tâm nghiên cứu Stimson – Mỹ, BizLIVE biên tập.  
Tình trạng khô hạn của hạ lưu sông Mekong bắt nguồn từ đâu?
Trong suốt ba thập kỷ, Trung Quốc đã cho xây dựng các đập trên lưu vực thượng nguồn sông Mê Kông khiến các nước ở hạ lưu lo ngại rằng một ngày nào đó Trung Quốc có thể chặn luôn dòng chảy của sông. 
Dữ liệu mới cho thấy trong sáu tháng của năm 2019, trong khi Trung Quốc có lượng mưa và tuyết cao trên mức trung bình và các đập giữ nước nhiều hơn bao giờ hết thì các nước ở hạ nguồn phải chịu tình trạng hạn hán nghiêm trọng chưa từng thấy. 
Những phát hiện mới này xác nhận điều mà nhiều người đã nghi ngờ từ lâu: Trung Quốc đang tích trữ nhiều nước hơn bao giờ hết và đang gây ra những thay đổi thất thường và tác động tiêu cực đến mực nước ở hạ nguồn.
Dữ liệu mới cho thấy trong đợt hạn hán nghiêm trọng ở hạ lưu sông Mê Kông năm 2019 thì ở thượng lưu của Trung Quốc lại có lượng mưa và tuyết tan lớn và các đập ở thượng nguồn của Trung Quốc đã ngăn lại gần như toàn bộ lượng mưa và tuyết rơi kỷ lục này không cho chảy về hạ lưu. 
Nếu các con đập Trung Quốc không hạn chế dòng chảy, một phần của sông Mê Kông dọc biên giới Thái Lan-Lào đáng lẽ ra đã phải có mức dòng chảy trên trung bình từ tháng 4 năm 2019 đến nay thay vì chịu tình trạng hạn hán nghiêm trọng như vậy.
Đây là một phần của mô hình hoạt động kéo dài đã gây ra nhiều đợt hạn hán. Tần suất hạn hán ngày càng tăng ở hạ lưu diễn ra tương ứng với việc Trung Quốc hạn chế dòng chảy ở thượng nguồn trong mùa khô.
Trung Quốc đang tích trữ nhiều nước hơn bao giờ hết từ trước đến nay. Sau khi hoàn thành đập Nọa Trát Độ (Nuozhadu) vào năm 2012, các đập của Trung Quốc đã cùng giữ lại nhiều nước đáng kể hơn so với giai đoạn 20 năm trước và cũng bắt đầu chặn nhiều nước hơn so với lượng xả ra.
Chính sách quản lý đập của Trung Quốc đang gây ra những thay đổi thất thường và tác động tiêu cựcđến mực nước ở hạ lưu. Bây giờ chúng ta có thể thấy tình trạng lũ quét bất thường ở hạ lưu có mối liên hệ với việc hoàn thành đập Đại Triều Sơn (Dachaoshan) và đập Nọa Trát Độ (Nuozhadu) trong năm 2002 và 2012-2014. Việc xả đập bất ngờ đã gây ra sự gia tăng mực nước sông nhanh chóng, tàn phá các cộng đồng ở hạ lưu, gây thiệt hại hàng triệu đô,gây sốc cho quy trình tự nhiên của hệ sinh thái sông.
Trong sáu tháng của năm 2019, các con đập của Trung Quốc đã giữ lại quá nhiều nước dẫn đến tình trạng ngăn chặn hoàn toàn sự gia tăng mực nước do gió mùa hàng năm tại Chiang Saen, Thái Lan. Điều này chưa từng xảy ra kể từ khi hồ sơ lưu trữ hiện đại được lưu giữ.
Khẳng định tình trạng khô hạn của sông Mê Kông do đập của Trung Quốc gây ra
Từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2019, phần thượng nguồn sông Mê Kôngtại Trung Quốc nhận được lượng mưa và tuyết lớn bất thường, tuy nhiên các đập của Trung Quốc lại đã chặn hoặc hạn chế lượng nước xả ra nhiều hơn bao giờ hết - ngay cả khi các nước ở hạ nguồn đang phải chịu tình trạng hạn hán nghiêm trọng chưa từng thấy.
Vào những năm 1990 khi Trung Quốc xây đập đầu tiên ở thượng nguồn sông Mê Kông, nhiều người suy đoán rằng Trung Quốc có thể sử dụng đập của mình để hạn chế nước chảy xuống hạ lưu sông Mê Kông, ngắt nguồn nước một cách nhanh gọn đối với các quốc gia phụ thuộc vào dòng Mê Kông để đảm bảo sự ổn định và an ninh kinh tế. 
Hiện nay, tổng cộng mười một con đập khổng lồ của Trung Quốc nằm rải rác trên thượng nguồn sông Mê Kông đã đạt và tích trữ một lượng nước nhiều tương đương với vịnh Chesapeake. Tần suất và mức độ nghiêm trọng của tình trạng hạn hán ở hạ lưu đã tăng lên trong hai thập kỷ qua, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam hiện đang phải chịu đựng đợt hạn hán tồi tệ nhất trong lịch sử.
Một nghiên cứu mới từ Eyes on Earth sử dụng bằng chứng thực tế là số liệu trạm đo của Ủy ban sông Mê Kông kết hợp vớicông nghệ viễn thám để xác nhận chắc chắn mối lo ngại đã có từ lâu rằng tình trạng hạn hán đang diễn ra là kết quả của chính sách quản lý nước của Trung Quốc. Nghiên cứu của Eyes on Earth cho thấy thời điểm Trung Quốc hạn chế nước xả xuống các nước láng giềng ở hạ lưu, việc hạn chế lượng nước này đã kéo dài trong bao lâu và lượng nước khổng lồ mà Trung Quốc đã hạn chế trong ba thập kỷ qua.
Phát hiện quan trọng nhất của báo cáo là từ tháng 4 đến tháng 11 năm 2019, khu vực thượng nguồn sông Mê Kông tại Trung Quốc đã nhận được lượng mưa và tuyết lớn bất thường, tuy nhiên các đập của Trung Quốc đã chặn hoặc hạn chế xả nhiều nước hơn bao giờ hết trong khi các nước ở hạ nguồn đang phải chịu tình trạng hạn hán nghiêm trọng chưa từng thấy. Lượng mưa và lượng tuyết tan ở Trung Quốc đủ để giữ mực nước ở phần lớn hạ lưu sông Mê Kông trên mức trung bình từ tháng 4 năm 2019 đến tháng 3 năm 2020 nếu đập Trung Quốc không hạn chế lượng nước đó.
Hiện nay những kết quả nghiên cứu này đã được công bố và có thể được báo cáotheo thời gian gần với thời gian thực, các bên liên quan ở các quốc gia thuộc hạ lưu sông Mê Kông cần phải yêu cầu Trung Quốc thay đổi cách vận hành các đập ở thượng nguồn và đàm phán để phân phối tài nguyên nước công bằng hơn.
Lộ trình tốt nhất phía trước để thực hiện những mục tiêu này là hoạt động thông qua Ủy hội sông Mê Kông, một tổ chức lưu vực sông xuyên biên giới được thành lập bởi Hiệp định Mê Kông vào năm 1995.
Mặc dù thượng lưu sông Mê Kông có lượng mưa trên mức bình thường nhưng các con đập củaTrung Quốc đã giữ lại gần như toàn bộ lượng nước bổ sung trong đợt hạn hán khiến nhiều người không được tiếp cận với nước ngọt.
Trong mùa mưa 2019 (tháng 6 đến tháng 10), các phương tiện truyền thông khu vực và quốc tế đã đưa tin về mực nước sông thấp kỷ lục tại các quốc gia ở hạ lưu sông Mê Kông.
Vào tháng 7 năm 2019, Thái Lan đã huy động quân đội của mình để ứng phó với tình trạng hạn hán khẩn cấp ở các tỉnh phía đông bắc nơi các bãi đá và đảo thường được bao phủ bởi các đợt nước sông trong mùa mưa nhưng hiện đã bị trơ trọi ở mức độ chưa từng thấy trước đây. 
Ở Campuchia, các cộng đồng đánh bắt cá dọc theo biển hồ Tonle Sap - ngư trường nội địa lớn nhất thế giới mà ở đó người Campuchia đánh bắt tới 70% lượng protein của họ - báo cáo lượng cá đánh bắt thấp hơn 80-90% so với thông thường. Ngày nay, một số khu vực dân cư đông đúc của Việt Nam ở đồng bằng sông Cửu Long đã hoàn toàn không có nước ngọt.
Tác động của đợt hạn hán 2019
So sánh này cho thấy mức độ hạn hán của sông Mê Kông ở biên giới Thái Lan/Lào (phía trên) và biển hồ Tonle Sap (phía dưới) vào ngày 15 tháng 7 năm 2019 so với cùng ngày đó năm 2017 trong một mùa mưa bình thường.
Vào tháng 7 năm 2019, phần thượng nguồn sông Mê Kông của Trung Quốc nhận được lượng mưa và tuyết tan bình thường nhưng dòng chảy đó đã bị hạn chế bởi 11 con đập lớn của Trung Quốc.
 “Trung Quốc đã vượt qua khó khăn của riêng mình và tăng dòng chảy từ sông Lan Thương để giúp các quốc gia dọc Mê Kông khắc phục tình trạng hạn hán”, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc – Vương Nghị, trả lời phỏng vấn Reuters ngày 20 tháng 2 năm 2020.
Tuy nhiên, dữ liệu mới này lại cho thấy một câu chuyện rất khác: một lượng mưa và tuyết rơi trên mức bình thường đã xảy ra ở lưu vực thượng nguồn Trung Quốc trong mùa mưa hàng năm và gần như toàn bộ lượng nước đó vẫn nằm ở phía sau các con đập của Trung Quốc. Biểu đồ dưới đây cho thấy các con đập của Trung Quốc ngăn chặn và hạn chế gần như toàn bộ lượng nước rơi ở lưu vực thượng nguồn trong khi các nước ở hạ nguồn phải chịu đựng và tiếp tục chịu đựng. 
Mức độ hạn chế dòng chảy này chưa từng có tiền lệ. Lượng mưa và tuyết của Trung Quốc đáng ra đã có thể giúp giảm bớt tình trạng hạn hán và duy trì mực nước sông trên trung bình, đặc biệt là khu vực dọc biên giới Thái Lan/Lào và trong những tháng đầu hạn hán. 
Trong khi đó, trên thực tế dòng sông gần như khô cạn. Tuy nhiên, tại một cuộc họp đầu năm 2020, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị tuyên bố rằng thiếu mưa là nguyên nhân chính của hạn hán và cho biết Trung Quốc cũng đã phải chịu tình trạng này. Những phát hiện của Eyes on Earth đã chứng minh rằng tuyên bố đó là sai.
Hiện nay lưu vực đang vào mùa khô hàng năm, việc thiếu nước trên hệ thống sông Mê Kông đã khiến 17 tỉnh trên toàn lưu vực sông Mê Kông phải tuyên bố tình trạng hạn hán khẩn cấp. Hạn hán cũng gây ra sự sụt giảm lớn trong sản xuất lúa gạo ở Thái Lan và Việt Nam, hai nhà cung cấp chính cho thị trường gạo khu vực và toàn cầu. Phần lớn tình trạng này diễn ra xảy ra khi dịch COVID19 đang khiến khu vực bị phong tỏa, gây ra những hậu quả kinh tế càng nghiêm trọng hơn cho khu vực.
Cho đến nay, tình trạng hạn hán này phần lớn bị đổ thừa cho hiện tượng El Nino đang diễn ra, gây nên lượng mưa thấp bất thường cho các quốc gia dọc sông Mê Kông trong hầu hết năm 2019, bao gồm cả mùa mưa.
Trung Quốc có lượng mưa đáng kể ...
Bản đồ giáng thủy cho thấy lưu vực thượng nguồn sông Mê Kông có lượng mưa trên trung bình trong mùa mưa năm 2019 so với mười tám năm trước.
... Trong khi đó gần như tất cả lượng mưa này đã bị giữ lại.
Như lưu ý dưới đây, các con đập của Trung Quốc đã giữ lại quá nhiều nước đến mức hoàn toàn ngăn chặn mực nước sông dâng theo mùa mưa tại Chiang Saen, Thái Lan.  Tình trạng này chưa bao giờ xảy ra kể từ khi khi hồ sơ lưu trữ hiện đại được lưu giữ.
Tìm hiểu các lựa chọn chính sách quản lý nước của Trung Quốc
Các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc coi nước là tài nguyên có chủ quyền chứ không phải là tài nguyên chung, đây là một cách tiếp cận có ảnh hưởng đáng kể đến các quốc gia ở hạ nguồn.
Tại sao các nhà quản lý đập Trung Quốc giữ lại quá nhiều nước trong thời điểm các quốc gia hạ nguồn ở Đông Nam Á đang rất cần nước? Nếu sự lựa chọn hạn chế lượng nước chưa từng có tiền lệ này của Trung Quốc là thông tin công khai mà của các bên liên quan ở hạ nguồn có thể tiếp cận, thì quyết định đó chắc chẵn sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh của Trung Quốc về mặt chính trị. 
Nhưng Trung Quốc coi dữ liệu về lưu lượng nước và hoạt động thủy điện là bí mật quốc gia. Sự thiếu minh bạch này cho phép Trung Quốc đưa ra luận điệu về việc phải chịu chung trình trạng hạn hán và đưa ra cơ sở chung để Trung Quốc tăng cường hợp tác kinh tế với các quốc gia hạ nguồn thông qua Cơ chế hợp tác Mê Kông – Lan Thương.
Câu trả lời cho câu hỏi về động cơ của Trung Quốc có thể nằm ở cách Trung Quốc coi trọng tài nguyên nước. Đối với chính quyền Bắc Kinh, nước được coi là một loại hàng hóa có chủ quyền để sử dụng tiêu dùng hơn là một nguồn tài nguyên chung được cung cấp một cách công bằng cho các bên liên quan ở hạ nguồn. 
Các nhà nghiên cứu của Trung tâm Stimson thường nghe các bên liên quan của Trung Quốc lặp lại một quan điểm đáng lo ngại: không chia sẻ dù chỉ một giọt nước của Trung Quốc nếu Trung Quốc chưa sử dụng trước hoặc không khiến những quốc gia ở hạ nguồn phải trả giá. 
Đáng chú ý, Trung Quốc chưa ký kết các điều ước quốc tế cho phần lớn bốn mươi con sông xuyên biên giới của mình. Ngoài ra, các cơ quan liên quan của Trung Quốc thường đề cập rằng phần lưu vực của Trung Quốc đóng góp một lượng nước không đáng kể cho hệ thống sông, nhưng thực tế trong mùa khô và trong thời gian hạn hán, lượng nước ở thượng nguồn Trung Quốc đóng góp vào tổng lưu lượng sông là hơn 40%.
Có thể là các nhà quản lý cấp cao về nước và thủy điện của Trung Quốc yêu cầu các đập thượng nguồn này lưu trữ ngày càng nhiều nước, và chờ đợi chỉ đạo vận hành tua-bin để sản xuất điện. Nhưng các báo cáo luôn cho thấy rằng các đập ở thượng nguồn sông Mê Kông hiếm khi được yêu cầu vận hành để sản xuất điện. Tích trữ nước cho đến thời điểm những con đập được sử dụng có vẻ là một giải thích hợp lý – nếu nhu cầu của hạ nguồn không được xem xét.
Nước từ sông Mê Kông có thể được chuyển vào các lưu vực khác dẫn ra bờ biển phía đông Trung Quốc, những hành động như vậy sẽ loại bỏ vĩnh viễn nguồn nước này khỏi sông Mê Kông, nhưng hiện tại không có bằng chứng nào về hoạt động này. Các dự án chuyển nước liên lưu vực rất khó hoặc không thể giữ bí mật do quy mô hoạt động và số lượng các bên liên quan. 
Các dự án chuyển nước từ lưu vực sông Mê Kông đã được đề xuất nhưng hiện tại khó khả thi do khó khăn kỹ thuật và mức độ rủi ro cao.Nhưng các dự án chuyển nước đang diễn ra ở các lưu vực lớn khác ở Trung Quốc tại tỉnh Vân Nam và các khu vực khác của Trung Quốc (ví dụ: Dự án chuyển nước Nam-Bắc trị giá 62 tỷ đô la). 
Ý tưởng lấy nước từ sông Mê Kông và các con sông xuyên biên giới khác để sử dụng trong nước có khả năng vẫn là một lựa chọn chính sách hấp dẫn. Vì Trung Quốc là một trong những quốc gia có mức phân bổ theo đầu người thấp nhất trên thế giới nên vấn đề chỉ là thời gian thời gian trước khi Trung Quốc bắt đầu chuyển nước ra khỏi sông Mê Kông và chuyển từ Đông Nam Á đến các khu vực đô thị phía đông.
Cuối cùng, các sông băng ở dãy Himalaya đang tan chảy với tốc độ nhanh hơn hầu hết những nơi đóng băng trên trái đất. Có thể các hồ chứa đập thủy điện khổng lồ trên sông Mê Kông của Trung Quốc được xây dựng để hứng dòng chảy này, tiết kiệm lượng mưa và tuyết tan trong một thời gian kể từ bây giờ để sử dụng khi cần cho sản xuất điện hoặc thậm chí chuyển hướng vào hệ thống sông Dương Tử.

NGỌC DIỆP