BizLIVE - Theo nghị định vừa ban hành, mức lương cơ bản của lãnh đạo cấp cao tại 3 doanh nghiệp nhà nước này thấp nhất là 40 triệu đồng và cao nhất 70 triệu đồng/tháng, mức được hưởng gắn với hiệu quả kinh doanh.
Từ 1/4, bắt đầu thí điểm quản lý lương thưởng của VNPT, Vietnam Airlines, VATM
Ảnh minh họa.
Ngày 17/2, Thủ tướng Chính phủ vừa ký ban hành Nghị định về thực hiện thí điểm quản lý lao động, tiền lương, tiền thưởng đối với một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước theo đề xuất của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
Theo đó, nghị định quy định việc thực hiện thí điểm quản lý lao động, tiền lương, bảng lương, tiền thưởng của người lao động và tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, kế toán trưởng, thành viên hội đồng thành viên, hội đồng quản trị, trưởng ban kiểm soát, kiểm soát viên năm 2020 tại Công ty mẹ - Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT); Công ty mẹ - Tổng công ty Hàng không Việt Nam – CTCP (Vietnam Airlines); Công ty mẹ - Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam (VATM).
Tiền lương, tiền thưởng đối với lãnh đạo và người lao động tại ba doanh nghiệp này được xác định dựa trên nguyên tắc gắn với năng suất lao động, hiệu quả sản xuất, kinh doanh của công ty.
Doanh nghiệp được tự chủ xây dựng thang bảng lương 
Nghị định cho phép doanh nghiệp được tự chủ về lập kế hoạch, tuyển dụng, sử dụng lao động, xây dựng thang bảng lương (kể cả đối với người quản lý); đồng thời quy định khi tuyển dụng dư thừa lao động thì tổng giám đốc phải chịu trách nhiệm (kể cả việc giảm trừ tiền lương, tiền thưởng) trước hội đồng thành viên hoặc hội đồng quản trị của công ty.
Về tiền lương của người lao động và ban điều hành được khoán theo đơn giá tiền lương (gọi tắt là đơn giá khoán).
Trong đó, đơn giá tiền lương khoán theo chỉ tiêu sản xuất, kinh doanh phản ánh hao phí lao động và năng suất của từng đơn vị. Theo đó, VNPT theo tỷ lệ % trên tổng doanh thu trừ tổng chi phí chưa có tiền lương, được xác định trên cơ sở đơn giá bình quân của giai đoạn 2018 -2019 và có tính bù chênh lệch tiền lương của lao động trực tiếp thực hiện sản phẩm công nghệ cao;
Vietnam Airlines theo chỉ tiêu tấn - km thực hiện có doanh thu, được xác định trên cơ sở đơn giá bình quân của giai đoạn 2018 - 2019 và có tính bù chênh lệch tiền lương của người lái máy bay là người Việt Nam mà công ty trả thấp hơn so với người lái máy bay là người nước ngoài;
VATM theo chỉ tiêu km điều hành bay quy đổi, được xác định trên cơ sở đơn gỉá bình quân của giai đoạn 2018 - 2019 và tiền lương, tiền thưởng an toàn (nếu có) tính cho số lao động dự kiến phải bổ sung năm 2020 theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền vì mục tiêu an ninh, an toàn hàng không.
Quỹ tiền lương thực hiện được xác định trên cơ sở đơn giá khoán nhân với chỉ tiêu tính đơn giá khoán thực hiện, bảo đảm mức tăng tiền lương bình quân thấp hơn mức tăng năng suất lao động bình quân và lợi nhuận thực hiện không thấp hơn lợi nhuận thực hiện bình quân của giai đoạn 2018-2019.
Đối với công ty có lợi nhuận thực hiện vượt lợi nhuận bình quân của giai đoạn 2018 - 2019 thì được tính thêm vào quỹ tiền lương (hạch toán vào chi phí) theo nguyên tắc vượt 1% lợi nhuận, được tính thêm tối đa 2% quỹ tiền lương, nhưng không quá 20% phần lợi nhuận vượt và không quá 02 tháng tiền lương thực hiện.
Trường hợp lợi nhuận thực hiện thấp hơn bình quân của giai đoạn 2018 - 2019 thì phải giảm trừ quỹ tiền lương theo một trong hai cách do công ty lựa chọn: giảm trừ tỷ lệ (%) hoặc theo mức chênh lệch giá trị lợi nhuận thực hiện thấp hơn lợi nhuận bình quân của giai đoạn 2018-2019. Mức giảm trừ tối đa không quá 02 tháng tiền lương.
Mức lương đề xuất của hội đồng thành viên/hội đồng quản trị, kiểm soát viên
Lương cơ bản của hội đồng quản trị, ban kiểm soát thấp nhất 40 triệu đồng, cao nhất 70 triệu đồng
Về tiền lương của hội đồng thành viên/hội đồng quản trị, kiểm soát viên, nghị định quy định mức lương cơ bản, tiền lương được hưởng theo chức danh.
Cụ thể, mức lương cơ bản quy định theo hai loại doanh nghiệp gắn với quy mô, độ phức tạp quản lý (vốn, doanh thu, đầu mối quản lý, lao động): Loại 1, áp dụng đối với công ty có chỉ tiêu kế hoạch: vốn chủ sở hữu từ 10.000 tỷ đồng trở lên; doanh thu từ 30.000 tỷ đồng trở lên và có 10 đầu mối quản lý (công ty con hạch toán độc lập hoặc phụ thuộc) hoặc tổng số lao động sử dụng từ 5.000 người trở lên.
Loại 2, áp dụng đối với công ty có chỉ tiêu kế hoạch: vốn chủ sở hữu dưới 10.000 tỷ đồng; doanh thu dưới 30.000 tỷ đồng và có dưới 10 đầu mối quản lý hoặc tổng số lao động sử dụng dưới 5.000 người.
Mức lương cơ bản được quy định thấp nhất 40 triệu đồng và cao nhất 70 triệu đồng, được xác định theo mức lương cơ bản gắn với lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (sau đây gọi tắt là tỷ suất lợi nhuận) kế hoạch so với lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận thực hiện năm trước liền kề.
Nếu lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận kế hoạch bằng hoặc cao hơn lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận năm trước liền kề thì mức tiền lương kế hoạch tối đa bằng 02 lần mức lương cơ bản.
Nếu lợi nhuận hoặc tỷ suất lợi nhuận kế hoạch thấp hơn lợi nhuận hoặc tỷ suất lợi nhuận năm trước liền kề thì mức tiền lương kể hoạch tối đa được tính bằng 02 lần mức lương cơ bản nhân tỷ lệ (%) lợi nhuận hoặc (%) tỷ suất lợi nhuận kế hoạch thấp hơn so với lợi nhuận hoặc tỷ suất lợi nhuận năm trước liền kề. 
Nếu không có lợi nhuận thì mức tiền lương kể hoạch tối đa bằng 50% mức lương cơ bản; lỗ thì mức tiền lương kế hoạch tối đa bằng 30% mức lương cơ bản.
Về thù lao của thành viên hội đồng thành viên, hội đồng quản trị, kiểm soát viên không chuyên trách được tính theo công việc và thời gian làm việc, nhưng không vượt quá 20% mức tiền lương tương ứng của thành viên hội đồng thành viên, hội đồng quản trị, kiểm soát viên chuyên trách.
Về tiền thưởng, được trích theo mức độ hoàn thành chỉ tiêu lợi nhuận và xếp loại công ty nhưng không quá 02 tháng tiền lương và thù lao, nếu lợi nhuận thực hiện bằng hoặc vượt kế hoạch và công ty xếp loại A; không quá 02 tháng tiền lưong và thù lao nhân với tỷ lệ (%) lợi nhuận thực hiện so với lợi nhuận kế hoạch, nếu lợi nhuận thực hiện thấp hơn kế hoạch và công ty xếp loại A hoặc loại B; không được trích tiền thưởng nếu công ty xếp loại C hoặc công ty không thực hiện xếp loại.
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2020.

HOÀNG HÀ