Lãi suất, tỷ giá USD/VND qua góc nhìn của CIEM

Trần Giang

15:40 29/07/2015

BizLIVE -

Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) cho rằng để ổn định tỷ giá việc điều chỉnh tăng tỷ giá VND/USD là cần thiết, nhưng không đủ để ổn định thị trường. NHNN phải bán ra khoảng 200 triệu USD để tăng cung.

Lãi suất, tỷ giá USD/VND qua góc nhìn của CIEM

Biến động tỷ giá từ tháng 1/2013 đến tháng 4/2015

Đây là một trong những nội dung trong Báo cáo kinh tế vĩ mô quý II/2015 của CIEM vừa đưa ra sáng nay, ngày 29/7. Theo CIEM, tỷ giá nhiều biến động trong quý II/2015 nhưng khá ổn định trong tháng 4. Áp lực tỷ giá tăng mạnh vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5. Đến nửa cuối tháng 5 thì ổn định dần.

CIEM cho rằng, áp lực tăng tỷ giá VND/USD là do thâm hụt thương mại lớn cộng với sai số ước tính số liệu thâm hụt thương mại. “Kỳ vọng về tăng tỷ giá như rủi ro lãi suất ở Mỹ; đề xuất vay từ dự trữ ngoại hối cho đầu tư… cũng tác động tới tỷ giá”, TS. Nguyễn Tú Anh, Trưởng ban chính sách kinh tế vĩ mô CIEM, nhận định.

 TS. Nguyễn Tú Anh, Trưởng ban chính sách kinh tế vĩ mô CIEM

Theo TS.Tú Anh, việc tỷ giá tăng cộng với lạm phát đang thấp đã giúp hàng hóa Việt Nam phần nào cạnh tranh hơn.

“Chúng ta vẫn duy trì quan điểm là ngân hàng phải kiểm soát được tỷ giá hối đoái, bởi nếu tăng tỷ giá thì khoản nợ nước ngoài quá cao. Nhưng cũng có một mặt là tỷ giá ổn định thì ngày càng vay nhiều và hiện nay nợ ngày càng cao, vay càng nhiều”, TS.Tú Anh bình luận.

Về vấn đề nợ xấu, TS.Tú Anh cho rằng vẫn còn cao. Mặc dù nợ xấu giảm trong thời gian qua nhưng đó là nợ xấu nội bản, còn nợ xấu ngoại bản chưa tính. “Nợ xấu tiềm năng như giãn nợ, hết giãn nợ lại có nguy cơ quay trở lại nợ xấu là rất cao”, TS.Tú Anh nhận định.

Nợ xấu tính từ tháng 1/2013 đến tháng 2/2015 (nguồn CIEM)

Theo ông Tú Anh, để xử lý nợ xấu, từ đầu năm tới nay NHNN đã quốc hữu hóa 3 NHTM nhưng bước tiếp theo là gì? “Trên thực tế, nguồn lực, tài lực, pháp lực vẫn còn hạn chế khiến kết quả xử lý nợ xấu chưa rõ ràng. Cần chuyển biến mạnh để có thể đạt mục tiêu nợ xấu dưới 3% vào 30/9/2015”, ông Tú Anh bình luận.

Về lãi suất, ông Tú Anh nhận định là ổn định nhưng khó giảm thêm và áp lực tăng cục bộ ở một số ngân hàng thương mại.  “Nguyên nhân khiến lãi suất khó giảm là vì tín dụng tăng đều hơn trong 6 tháng đầu năm và kỳ vọng tăng mạnh do phục hồi tăng trưởng, nhiều doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư để đón đầu cơ hội đến từ FTA. Cùng với đó, thời gian qua lượng trái phiếu Chính phủ phát hành cũng giảm và kỳ vọng lạm phát khó giảm thêm”, ông Tú Anh phân tích.

Tăng trưởng tín dung năm 2014 đến tháng 6/2015 (nguồn CIEM) 

Theo ông Tú Anh, hiện lãi suất huy động của ngân hàng đang rất thấp nhưng lãi suất cho vay lại vẫn cao, doanh nghiệp không chịu đựng được. Đây là vấn đề cản trở tăng trưởng lớn.

“Chênh lệch lãi suất huy động và cho vay ngày càng cao, lên tới gần 70%, lãi suất cao là rào cản khiến doanh nghiệp không thể vay vốn. Có vẻ những chi phí tái cơ cấu đang đẩy sang một bên thứ ba khác là doanh nghiệp”, ông Tú Anh bình luận.

Mặt băng lãi suất huy động của hệ thống ngân hàng (nguồn CIEM)

Dù vậy, ông Tú Anh vẫn cho rằng tốc độ tăng trưởng tín dụng từ tháng 4/2015 trở lại đây là do cầu kéo. Điều này cho thấy dấu hiệu phục hồi của nền kinh tế rất rõ ràng.  

“Nếu như ở năm 2012 khi ROE của các NHTM cổ phần đi xuống sâu thì ROE của NHTM quốc doanh tăng rất cao. Tức đây là thời kỳ buôn bán hoạt động của các ngân hàng chủ yếu diễn ra trên hệ thống liên ngân hàng là chính. Vì vậy, mặc dù tăng cung tiền nhưng tiền chỉ xoay quanh ở trong hệ thống ngân hàng với nhau, không chảy ra bên ngoài. Tốc độ tăng tín dụng thời kỳ này hầu như do lực đẩy của tăng cung tiền”, ông Tú Anh phân tích.

Ở một góc nhìn khác, TS. Lê Đình Ân, nguyên Giám đốc Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế Xã hội Quốc gia, lại cho rằng nợ xấu, nợ công và chính sách tiền tệ rất đáng suy nghĩ. “Hệ thống dễ vỡ hiện nay là hệ thống ngân hàng. Lãi suất huy động hiện tăng không lớn nhưng là có. Nhưng tài chính của hệ thống NHTM thấp, nên lãi suất huy động giảm rồi nhưng không thể giảm được các chi phí khác để giảm lãi suất”, ông Ân nhận định.

TRẦN GIANG

Bảng giáThị trường

VN-Index 803.66 ▼ -1.92 (-0.24%)

 
VN-Index 803.66 -1.92 -0.24%
HNX-Index 107.68 0.34 0.32%
UPCOM 54.36 -0.07 -0.14%
DJIA 22,349.59 -9.64 -0.04%
Nasdaq 6,426.92 4.23 0.07%
Nikkei 225 20,397.58 101.13 0.5%
FTSE 100 7,299.49 -11.15 -0.15%