Khi than nhập khẩu “vỡ kế hoạch” lên đến 10 triệu tấn

Nguyễn Thảo

13:03 24/10/2016

BizLIVE - Thời gian vừa qua giá than tại nhiều thị trường lại giảm, đây là yếu tố vì sao nhập khẩu than lớn trong thời gian vừa qua, đại diện Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương) cho biết. 

Khi than nhập khẩu “vỡ kế hoạch” lên đến 10 triệu tấn

Toạ đàm "Nhập khẩu than và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia" diễn ra sáng 24/10

Sáng 24/10, tọa đàm "Nhập khẩu than và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia" do Cổng thông tin điện tử Chính phủ tổ chức.

Báo cáo trước đó của Tổng cục Hải quan cho thấy, tính đến 15/9, tổng lượng nhập khẩu than đá đạt 10,1 triệu tấn với kim ngạch 629,5 triệu USD. Như vậy nhập khẩu than hiện đã “vỡ kế hoạch” 7 triệu tấn so mốc dự báo 3,1 triệu tấn do Bộ Công Thương đưa ra đầu năm 2016.

Số liệu từ tổng cục Hải quan cũng cho biết, những thị trường cung ứng than lớn cho Việt Nam trong 8 tháng đầu năm nay gồm: Úc (3 triệu tấn), Nga (2,8 triệu tấn), Indonesia (1,8 triệu tấn) và Trung Quốc (1,4 triêu tấn).

Nhìn nhận về vấn đề này, ông Nguyễn Khắc Thọ, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Năng lượng (Bộ Công Thương), cho biết, than là mặt hàng kinh doanh có điều kiện, than xuất khẩu thời gian vừa qua chủ yếu là than trong nước chưa sử dụng hết hoặc chưa sử dụng. Hàng năm, Bộ Công Thương trên cơ sở tính toán cung cầu, đáp ứng tối đa sử dụng trong nước, còn lại báo cáo Chính phủ xuất khẩu.

Về việc nhập khẩu than tăng nhanh, ông Thọ lý giải do nguồn than trong nước không đáp ứng và giá than nhập khẩu rẻ hơn giá than khai thác trong nước. Nguyên nhân giá than trong nước cao hơn do yếu tố đầu vào kỹ thuật khai thác than, đa số mỏ khai thác ở dưới sâu, thậm chí âm 300m so với mực nước biển, chi phí khai thác mỏ lộ thiên với hệ số bóc đất đã tăng gấp 3 lần làm tăng chi phí sản xuất, giá thành sản xuất than trong nước.

Bên cạnh đó, than trong nước cũng chịu tác động bất lợi từ cơ chế chính sách về thuế như 1/7/2016, thuế tài nguyên môi trường tăng trung bình 3 lần nếu tính tiền cấp quyền khai thác, bản chất cũng là thuế tài nguyên tăng hơn 10%, cao hơn mức trung bình 7%.

“Trong khi đó, thời gian vừa qua giá than tại nhiều thị trường lại giảm, đây là yếu tố vì sao nhập khẩu than lớn trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, thời điểm gần đây giá than nhập khẩu đã tăng so với 6 tháng đầu năm và đã dần tiệm cận giá than sản xuất, thời gian tới có thể ngang giá than sản xuất”, ông Thọ nhấn mạnh.

Ông Thọ cũng cho biết, nhu cầu than 3 triệu tấn trong dự báo hồi đầu năm của Bộ Công Thương chưa tính đến các nhà máy nhiệt điện BOT và các nhà máy đã nhập khẩu than trước đây như Formosa Đồng Nai, số liệu 3 triệu tấn cũng chưa tính đến các hộ khác như sản xuất xi măng, hoá chất, phân bón, luyện kim… theo đó khối lượng than phải nhập có thể lên đến 8 triệu tấn.

“Trong 9,7 triệu tấn than nhập đến tháng 8/2016 bao gồm than cho điện, các hộ khác để thấy dự báo 3 triệu tấn than nhập khẩu cho điện phải gấp 3 lần”, ông Thọ nêu quan điểm.

Đồng quan điểm với đánh giá của ông Thọ, ông Nguyễn Văn Biên, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam (TKV), cho biết thêm, xuất khẩu than trong nước chưa sử dụng giúp TKV mở rộng thị trường, thúc đẩy sản xuất, góp phần tăng trưởng.

“So với khi thành lập tập đoàn từ năm 1995 sản lượng đã tăng gấp 7 lần, năng suất tăng 4 lần, vốn chủ sở hữu gần 1.000 tỷ lên 33.000 tỷ, nộp ngân sách tăng hiện 13.000-16.000 tỷ đồng, việc xuất giúp ngành than bù đắp giá than trong nước bán thấp hơn giá thành cho ngành điện, xi măng… và giúp mở rộng hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ mới”, ông Biên dẫn chứng.

Bên cạnh đó, theo ông Biên, 9 tháng đầu năm có lượng than tồn kho tại miền Tây, Vàng Danh, Uông Bí chưa xuất được do đó cần nhập khẩu than chất bốc cao, lưu huỳnh thấp để có thể trộn và đáp ứng nhu cầu khác nhau của khách hàng. Theo đó, có thể tạo điều kiện chiết khẩu, giảm giá cho khách hàng.

Cũng theo ông Biên, việc vừa xuất khẩu, vừa nhập khẩu than của Việt Nam không phải ngoại lệ, nhiều nước trên thế giới ở trong xu hướng này.

NGUYỄN THẢO

Bảng giáThị trường

VN-Index 653.53 ▲ 2.04 (0.31%)

 
VN-Index 653.53 2.04 0.31%
HNX-Index 79.41 0.07 0.08%
UPCOM 57.16 0.1 0.18%
DJIA 16,038.48 11.43 0.07%
Nasdaq 4,286.74 2.99 0.07%
Nikkei 225 16,122.71 -881.59 -5.47%
FTSE 100 5,632.19 -57.17 -1.02%