Dự án “khủng” Formosa đã đóng góp gì cho Việt Nam?

Nguyễn Thoan

07:57 25/08/2016

BizLIVE - Phân tích thực trạng đầu tư nước ngoài (FDI) tại Việt Nam, ông Nguyễn Văn Toàn, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE)  cho biết: “Một thực trạng đáng tiếc hiện nay là các dự án 100% vốn nước ngoài đang áp đảo. Formosa 100% vốn nước ngoài, dự án “khủng” hàng tỷ USD, nhưng Việt Nam được gì?”

Dự án “khủng” Formosa đã đóng góp gì cho Việt Nam?

Ông Nguyễn Văn Toàn, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE)

Theo thông tin cập nhật của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và đầu tư cho biết, hiện nay có 80% các dự án FDI là 100% vốn đầu tư nước ngoài và có khoảng 500 dự án lớn có số vốn đăng ký trên 500 triệu USD.
Nếu xét đúng theo mục tiêu thu hút FDI đề ra từ trước tới nay là đặt ưu tiên thu hút vốn làm tiêu chí hàng đầu thì chúng ta đang thực sự đi đúng hướng. Tuy nhiên, khi sự cố về môi trường mà khu Gang thép Hưng Hiệp Formosa Hà Tĩnh hồi tháng 4 vừa qua gây ra đã không khỏi đặt ra nghi ngại về tiêu chí thu hút FDI vào Việt Nam, đặc biệt với những dự án 100% vốn nước ngoài và có số vốn đăng ký khủng.
Để tìm câu trả lời cho câu hỏi: Tại sao các dự án FDI 100% vốn nước ngoài lại áp đảo như hiện nay? Và định hướng thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam trong thời gian tới?
BizLIVE đã có cuộc trao đổi trực tiếp với ông Nguyễn Văn Toàn, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE) về vấn đề này.
Theo đó, ông Toàn cho biết: Đang có một thực trạng đáng tiếc trong thu hút đầu tư nước ngoài khi tỉ lệ 100% vốn nước ngoài trở nên áp đảo. Vì, trước đây hình thức liên doanh, liên kết từng chiếm ưu thế.
Ông Toàn phân tích: Trước đây khi các doanh nghiệp FDI vào Việt Nam họ thiếu thông tin, thiếu các mối quan hệ công quyền, ngôn ngữ, các vấn đề liên quan tới đất đai nên họ cần có sự hiện diện của một pháp nhân Việt Nam, thông thuộc đường đi nước bước để giúp đỡ, dẫn đường cho họ. Cũng vì thế mà hình thức liên doanh, liên kết được ưa chuộng.
Trong thời điểm đó, ít ra chúng ta có “chân trong” nên cũng có thể kiểm soát được phần nào gian lận của doanh nghiệp nếu có. Và ngay cả những vi phạm về môi trường, hay không tuân thủ pháp luật của Việt Nam, sẽ dễ được phát hiện kịp thời để xử lý.
Tuy nhiên, khi làm được một thời gian nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu quen với cơ chế, môi trường đầu tư, tạo được các mối quan hệ tại Việt Nam, họ truyền tai nhau những kinh nghiệm để đầu tư ở ta, vì thế mà xu hướng liên doanh, liên kết thưa dần, ông Toàn phân tích.
 Nhưng sòng phẳng mà nói thì doanh nghiệp nào chẳng muốn được tự quyết hướng đi, hoạt động của doanh nghiệp mình mà không có sự can thiệp của “người ngoài”. 
Cùng với đó là có những bất đồng trong văn hóa, trình độ quản lý, chiến lược hoạt động, cũng là một nguyên nhân lớn để nhà đầu tư nước ngoài thích chọn phương án 100% vốn nước ngoài hơn là liên doanh, liên kết. “Và đây là điều đáng tiếc”, ông Toàn nhấn mạnh.
Trả lời thắc mắc về tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư nước ngoài trước đây và sau này có gì thay đổi, ông Toàn nhận xét: Về mặt bản chất thì tiêu chí FDI trước đây và bây giờ không có gì thay đổi. Vẫn là những tiêu chí như: vốn, lao động, thu hút công nghệ, quản lý, môi trường.
Tuy nhiên, đã có sự thay đổi về đối trọng của các tiêu chí cụ thể, sau những sự kiện FDI gây ảnh hưởng tới môi trường. Theo đó, trước đây chúng ta đặt vốn, giải quyết lao động lên làm mục tiêu hàng đầu. Bởi thời điểm đó đây là 2 vấn đề chúng ta thiếu nhất trong nền kinh tế.
Hiện nay thì tiêu chí cần được đặt lên hàng đầu là thu hút công nghệ, thân thiện môi trường. Chúng ta đặc biệt ưu tiên công nghệ cao, công nghệ nguồn, ông Toàn nhấn mạnh.
“Đã tới thời điểm chúng ta cần đặt nặng câu hỏi Việt Nam sẽ được gì khi lựa chọn nhà đầu tư này hay nhà đầu tư khác?”. Chúng ta cần quan tâm sẽ được lợi gì về công nghệ, về bảo vệ môi trường, tới tính lan tỏa và liệu có giúp phát triển các doanh nghiệp phụ trợ trong nước hay không?
Ông Toàn lưu ý: “Rất có thể chúng ta sẽ “thiệt kép” trong câu chuyện này. Nghĩa là chúng ta vừa không thu được tiền, lại vừa không nâng cao được trình độ, nếu không chú ý tới phát triển doanh nghiệp phụ trợ”. 
Hiện nay đa số là các doanh nghiệp phụ trợ của nước ngoài phục vụ cho doanh nghiệp của họ. “Vì thế, nếu cần thiết, chúng ta nên có những “rào cản kỹ thuật” với các doanh nghiệp phụ trợ nước ngoài vào Việt Nam”, ông Toàn đề xuất. 
Và đồng thời có luật để hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp phụ trợ để hỗ trợ họ có thể tham gia vào chuỗi giá trị thế giới, cũng như đáp ứng được nhu cầu của các doanh nghiệp FDI lớn.
Sau tiêu chí về tiếp thu công nghệ thì cần để ý tới yếu tố thân thiện môi trường. Ông Toàn cho biết: Trước đây chúng ta đã không để ý nhiều tới tiêu chí này. 
Ví dụ như dự án “khủng” Formosa. Đây là dự án 100% vốn nước ngoài, và đã đưa vào Việt Nam hàng tỉ USD vốn, “nhưng sau đó thì Việt Nam được gì?”, ông Toản đặt nghi vấn.
Những thiệt hại về kinh tế, môi trường do Formosa gây ra còn chưa thể tính toán hết. Bản thân doanh nghiệp này cũng đã đưa rất nhiều lao động nước ngoài vào Việt Nam. 
Kinh tế Việt Nam hiện nay đã có nhiều khởi sắc, thị trường vốn cũng khá rồi rào. Có lẽ đây chính là thời điểm để chúng ta phải thực sự đặt lại vị trí của các tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư nước ngoài. Không nên đặt vốn là tiêu chí quan trọng hàng đầu đang là nhận định chung của nhiều chuyên gia trong nước.

NGUYỄN THOAN