Sát thủ săn ngầm P-3 Orion mà Việt Nam để mắt lợi hại ra sao?

T.Đức

11:45 07/06/2016

BizLIVE - “Muốn biết vị trí của tàu ngầm Liên Xô, chỉ cần nhìn xem những P-3 Orion của Mỹ bay ở đâu”. 

Sát thủ săn ngầm P-3 Orion mà Việt Nam để mắt lợi hại ra sao?

Orion được phát triển từ khung chiếc máy bay thương mại L-188 Electra, có đuôi nhọn hình kim đặc thù, có chức năng dò từ tính của tàu ngầm. Ảnh: Chosun

Giữa những năm 1980 nóng bỏng trong cuộc đối đầu giữa lực lượng Hải quân Mỹ và Hải quân Liên Xô cũ, thậm chí quan chức quốc phòng Liên Xô cũng phải lên tiếng thừa nhận uy lực của máy bay P-3 Orion trong Hải quân Mỹ. 
Các máy bay này có nhiệm vụ trinh sát tại những vùng biển nước ngoài, theo dõi hoạt động của các chiến hạm của Liên Xô và các tàu ngầm.
P-3 Orion thường xuyên thực hiện những chuyến bay trên vùng cực Bắc Alaska, các căn cứ quân sự tại Atsugi, Iwakuni và Misawa trên lãnh thổ Nhật Bản, ở quần đảo Diego Garcia thuộc Ấn Độ hay căn cứ Cubi Point ở Philippines. 
Song song với đó, các máy bay P-3 Orion của Ireland và Na Uy giám sát vùng biển Bắc Cực, nơi mà tàu chiến và máy bay của Liên Xô hoạt động thường xuyên. 
Nguyên soái Sergey Akhromeyev, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Liên Xô, từng thừa nhận “muốn biết vị trí của tàu ngầm Liên Xô, chỉ cần nhìn xem những P-3 Orion của Mỹ bay ở đâu”. 
P-3 Orion là một máy bay bốn động cơ cánh quạt chống ngầm và giám sát lãnh hải, phát triển bởi Hải quân Mỹ và công ty Lockheed Martin. 
P-3 Orion lần đầu tiên trình làng tại triển lãm hàng không quốc tế Paris Air Show vào năm 1963 và bắt đầu phục vụ trong Hải quân Mỹ từ những năm 1960. Nhiệm vụ chủ yếu là tuần tiễu săn ngầm.
Orion được phát triển từ khung chiếc máy bay thương mại L-188 Electra, có đuôi nhọn hình kim đặc thù, có chức năng dò từ tính của tàu ngầm.  
Máy bay có chiều dài 116 ft 10 in (35,6 m); sải cánh 99 ft 8 in (30,4 m); chiều cao: 38 ft 8 in (11,8 m). P-3 trang bị 4 động cơ Allison T56-A-14 kiểu turboprop, 4.600 shp (3.700 kW) mỗi chiếc giúp máy bay có thể cất cánh với trọng lượng tối đa lên tới 142.000 lb (64.400 kg) và đạt vận tốc cực đại tới 411 kn (750 km/h).
Về vũ khí, máy bay có thiết kế mang theo 10 giá treo và khoang quân giới có 8 giá treo tải được 20.000 lb (9.100 kg) và kết hợp mang được một số loại tên lửa, bom, mìn, ngư lôi... với tổng khối lượng 9 tấn. 
Máy bay có thể mang theo vũ khí với tổng khối lượng 9 tấn.  
Biến thể hiện đại nhất của P-3 Orion là P-3C được bàn giao cho Hải quân Mỹ từ 1969 và đã được nâng cấp nhiều lần. 
Một phi đội tiêu chuẩn vận hành P-3C Orion có 11 người, bao gồm 3 phi công, 2 sĩ quan giám sát bay hải quân, 2 kỹ thuật viên bay, 3 sĩ quan vận hành thiết bị trinh sát và một kỹ thuật viên chung. 
Với nhiệm vụ chủ yếu là chống ngầm, P-3C được trang bị rất nhiều thiết bị trinh sát hiện đại như sonar DIFAR, thiết bị phát hiện điểm từ trường bất thường (MAD), radar giám sát hàng hải AN/APS-115, radar tìm kiếm mục tiêu mặt nước AN/APS-137D... 
Hệ thống phao định vị thủy âm AN/ARR-72/78 sẽ được thả xuống những khu vực khả nghi để dò tìm tàu ngầm đối phương. Phao được thả xuống biển bằng dù hãm, nó sẽ phát sóng siêu âm để phát hiện các đối tượng dưới mặt nước và gửi về máy bay bằng liên kết dữ liệu.
Ngoài ra, cánh máy bay được lắp thêm cảm biến giám sát điện từ ALQ-78. Hệ thống này có chức năng định vị tín hiệu radar do tàu ngầm phát ra. 
Có tổng cộng 734 chiếc P-3 đã được sản xuất và trong năm 2012. Các máy bay P-3 còn lại của Hải Quân Hoa Kỳ sẽ được sửa chữa và nâng cấp lên biến thể mới là P-8A Poseidon.
Mặc dù đã đưa vào sử dụng trong quân đội được hơn 50 năm, máy bay tuần tra P-3 Orion vẫn chứng minh được sức mạnh vượt thời gian, là lựa chọn lý tưởng của những quốc gia muốn nâng cao năng lực quốc phòng với mức chi phí phải chăng. 
Ngày nay, ngoài theo dõi tàu ngầm, P-3 Orion còn tiếp nhận nhiệm vụ mới săn khủng bố và cướp biển ở Afghanistan và châu Phi. 

(Tổng hợp)

T.ĐỨC