Trung Quốc không hạ cánh cứng: Việt Nam vẫn phải lo

Thành Luân

08:38 08/03/2016

Khả năng lớn nhất là Trung Quốc vẫn giữ được tốc độ phát triển trung bình cao và không dẫn đến những cú sốc về lạm phát.

Trung Quốc không hạ cánh cứng: Việt Nam vẫn phải lo

Trung Quốc khẳng định nền kinh tế nước này sẽ không hạ cánh cứng

PGS.TS Nguyễn Huy Quý, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Trung Quốc nhận định như vậy khi trao đổi về tuyên bố kinh tế Trung Quốc sẽ không hạ cánh cứng của Ủy ban Cải cách và Phát triển quốc gia Trung Quốc.

Người đứng đầu Ủy ban Cải cách và Phát triển quốc gia Trung Quốc vừa khẳng định, kinh tế Trung Quốc chắc chắn sẽ không hạ cánh cứng (tăng trưởng giảm sâu đột ngột) và có khả năng cao chống lại nguy cơ này. Tuyên bố này được đưa ra trong bối cảnh có rất nhiều dự báo về cú hạ cánh cứng của Trung Quốc khi khối nợ khổng lồ, các doanh nghiệp quốc doanh cồng kềnh và vai trò bị hạn chế của các lực lượng thị trường đang tạo ra nhiều nguy cơ cho nền kinh tế Trung Quốc.

Theo ông, cơ sở để người đứng đầu Ủy ban Cải cách và Phát triển quốc gia Trung Quốc đưa ra tuyên bố này là gì hay đó chỉ đơn thuần là một lời trấn an các nhà đầu tư?

Điều này còn tùy theo diễn biến cụ thể của tình hình kinh tế Trung Quốc và bối cảnh kinh tế thế giới. Nhưng theo tôi, rất có khả năng Trung Quốc sẽ không hạ cánh cứng hoặc tăng trưởng giảm sâu đột ngột hay tăng trưởng gắn liền với lạm phát cao. Mặc dù quá trình phát triển kinh tế của Trung Quốc có nhiều khó khăn trong chặng đường sắp tới và có nhiều khả năng xảy ra, nhưng khả năng Trung Quốc vẫn giữ được tốc độ phát triển trung bình cao và không dẫn đến những cú sốc về lạm phát vẫn là lớn nhất. Nguyên nhân là vì:

Thứ nhất, về cơ bản việc cải cách chuyển đổi phương thức phát triển kinh tế của Trung Quốc là đúng hướng dù còn nhiều khó khăn và những giải pháp cụ thể còn có vấn đề.

Thứ hai, vấn đề khó khăn nhất của Trung Quốc hiện nay là quản lý tài chính và một số dao động trong tình hình tài chính Trung Quốc nhưng họ đã có trong tay nguồn dự trữ ngoại tệ khổng lồ, trước đây khoảng 4.000 tỷ USD và hiện nay còn hơn 3.200 tỷ USD. Do đó, trong ngắn hạn Trung Quốc có thể sử dụng tiềm lực này để can thiệp vào diễn biến tình hình tài chính, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển ổn định.

Thứ ba, Trung Quốc có thị trường tiêu thụ trong nước dù trước mắt còn hạn chế nhưng có triển vọng ngày càng mở rộng vì dân số hơn 1,3 tỷ dân và khoảng 400-500 triệu cư dân trong tầng lớp trung lưu. Nó khác với các nước khác, ví dụ Hà Lan, Singapore... thị trường chủ yếu là đối ngoại. Trong năm 2015, xuất nhập khẩu của Trung Quốc sụt giảm nghiêm trọng nhưng thị trường tiêu thụ của họ không giảm đến mức như vậy.

Thứ tư, Trung Quốc là nước đang phát triển và việc tiến hành đô thị hóa, xây dựng nông thôn mới, xây dựng cơ sở hạ tầng... sẽ là động lực để duy trì phát triển. Các nước phát triển như Đức, Nhật, Thụy Sĩ... đã qua quá trình hiện đại hóa thì vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng không như ở Trung Quốc, Trung Quốc vẫn còn tiềm năng để phát triển lĩnh vực đó.

Thứ năm, hoạt động kinh tế đối ngoại hiện nay của Trung Quốc, cụ thể là chiến lược "Một vành đai, một con đường" gặp nhiều khó khăn nhưng nếu tình hình được cải thiện đó cũng là một động lực phát triển của kinh tế Trung Quốc. Trong khi hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc có khả năng tăng nhưng chậm do kinh tế thế giới phục hồi chậm chậm nhưng đầu tư ra ngoài lại phát triển rất nhanh. Hiện nay ngân hàng AIIB do Trung Quốc khởi xướng thành lập cũng đang hoạt động tương đối thuận lợi...

Tất cả các nhân tố khách quan đó cộng với nỗ lực chủ quan của Trung Quốc (ý đồ thực hiện giấc mộng Trung Hoa, đại phục hưng dân tộc Trung Hoa và đó cũng là sinh mệnh chính trị của ban lãnh đạo mới Trung Quốc, đứng đầu là Tập Cận Bình) nên từ nay đến năm 2020, Trung Quốc quyết tâm thực hiện hiệu quả quy hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ 13.

Cho nên, dù còn hạn chế và có những vấn đề Trung Quốc phát triển không như ý muốn nhưng khả năng kinh tế Trung Quốc sụp đổ hay hạ cánh cứng như dự báo của một số chuyên gia kinh tế không cao bằng khả năng Trung Quốc duy trì được tốc độ phát triển từ 5-6,5% (trung bình cao).

Một trong những vấn đề khó khăn nhất đối với Trung Quốc hiện nay là các công ty nhà nước, vốn giữ vai trò thống lĩnh trong lĩnh vực công nghiệp nặng và các ngành chiến lược của nền kinh tế đồng thời có ảnh hưởng lớn về chính trị, vẫn tồn tại bất chấp nợ khủng, nhiều năm làm ăn thua lỗ và mô hình kinh doanh yếu kém. Chính phủ Trung Quốc cũng đã nỗ lực cải cách các công ty nhà nước này bằng cách triển khai một số chương trình thí điểm về chế độ sở hữu hỗn hợp, cho phép các nhà đầu tư tư nhân và các nhà đầu tư nước ngoài nắm cổ phần không chi phối tại các công ty nhà nước.

Ông đánh giá như thế nào về cách làm này của Trung Quốc và hiệu quả của nó như thế nào nếu như thành công? Liệu nó có giúp cho kinh tế Trung Quốc thoát khỏi kịch bản hạ cánh cứng hay còn cần giải pháp nào khác?

Những gì câu hỏi đặt ra là một vấn đề lớn nhưng về cơ bản đường lối của Trung Quốc là đúng hướng. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã được Trung Quốc tiến hành hàng chục năm nay và so với Việt Nam thì có kết quả hơn nhiều.

Mấy năm qua, do một số lô cốt bảo thủ, hay lô cốt lợi ích nên các tập đoàn nhà nước lớn khiến vấn đề cổ phần hóa bị chậm lại. Nhưng với nỗ lực của chính quyền mới và với đường lối chính sách vạch ra trong Nghị quyết TƯ 3 và TƯ 4, hiện nay quá trình cổ phần hóa đang được Trung Quốc thúc đẩy quyết liệt. Vì thế, tôi cho rằng Trung Quốc có thể tạo ra được những bước đột phá mới để phá vỡ những lô cốt độc quyền trong các DNNN và tư tưởng của Tập Cận Bình về phương diện này là tương đối mạnh.

Ông Tập Cận Bình từng làm điều này rất hiệu quả khi còn làm Chủ tịch tỉnh Giang Tây, còn khi nắm chính quyền trong toàn quốc, ông ta mới đưa ra đường lối chính sách trong Nghị quyết TƯ 3 và triển khai trong mấy năm qua cùng chiến dịch chống tham nhũng. Thời gian sắp tới, Trung Quốc sẽ tiến hành cải cách quyết liệt và họ sẽ không câu nệ những hạn chế về tư duy về quyền sở hữu nên họ sẽ mở cửa hơn nữa đối với doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài để tạo kết quả là kinh tế vẫn tăng trưởng từ nay đến 2020.

Quyết tâm chiến lược của Trung Quốc là tháo gỡ vấn đề nêu trên, việc còn lại là tìm biện pháp cụ thể và biện pháp này đã trình bày trong báo cáo công tác của Chính phủ đang được Quốc hội Trung Quốc thảo luận và sẽ đi đến quyết định. Khi có quyết định cụ thể chúng ta sẽ thấy rõ hơn những giải pháp cụ thể Trung Quốc sẽ tiến hành trong 5 năm sắp tới. Nhưng rõ ràng ban lãnh đạo mới của Trung Quốc đang tìm biện pháp hiệu quả để thực hiện cải cách quyết liệt với mục tiêu họ đề ra trong thời gian sắp tới.

Tôi cho rằng, bây giờ còn một vấn đề là mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với củng cố quan hệ sản xuất gọi là cơ chế thị trường xã hội chủ nghĩa, làm thế nào để vừa phát triển được kinh tế vừa bảo đảm nguyên tắc của kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Đó là bài toán mà Trung Quốc phải giải quyết nhưng với tiềm lực, quyết tâm và cơ sở đã đạt được, trong quy hoạch sắp tới từ 2016-2020 Trung Quốc sẽ tháo gỡ dần những vướng mắc trong cải cách DNNN và bảo đảm kinh tế Trung Quốc sẽ không bị đổ vỡ hoặc rơi vào suy thoái trầm trọng, còn tốc độ tăng trưởng có thể trên dưới 6%.

Trong dự thảo Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội Trung Quốc giai đoạn 2016-2020 được đưa ra tại Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc (Quốc hội) Trung Quốc lần thứ 4 khóa 12, Trung Quốc đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế kinh trung bình cho cả giai đoạn 5 năm tới là ở mức trên 6,5%, tức ở mức trung bình và cao. Trong bối cảnh kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, kinh tế Trung Quốc đang trong giai đoạn chuyển đổi mô hình phát triển, mà theo cách gọi của nước này là đang bước vào "trạng thái bình thường mới", theo ông liệu con số trên có hợp lý? Xin ông phân tích cụ thể.

Con số này là tương đối cao và tôi cho rằng Trung Quốc có thể đạt tốc độ tăng trưởng thấp hơn họ đề ra. Trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm (2011-2015) lần thứ 12, Trung Quốc đề ra mục tiêu tăng trưởng trung bình hàng năm là 7%, các bình luận viên quốc tế dự báo kinh tế Trung Quốc sụp đổ, hạ cánh cứng nhưng cuối cùng Trung Quốc vẫn đạt được con số đó.

Năm 2016, Trung Quốc đặt ra mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức từ 6,5% đến 7%, và mục tiêu tăng trưởng kinh tế trung bình cho cả giai đoạn 5 năm tới cũng chỉ ở mức trên 6,5%, vấn đề là chất lượng nền kinh tế. Nếu không đạt được 6,5% như mục tiêu đề ra thì khả năng Trung Quốc đạt tăng trưởng 6% cũng là rất cao. Khi quy mô kinh tế lớn thì tốc độ tăng trưởng kinh tế không thể đạt quá cao. Như Mỹ thời gian qua, năm tăng trưởng cao nhất cũng chỉ là 4%, và nếu đạt 3,5% cũng là mức cao.

Cần lưu ý rằng, kinh tế Trung Quốc đang giảm tốc chứ chưa phải là suy thoái kinh tế và nó vẫn nằm trong mức độ khống chế của Trung Quốc.

Việt Nam là quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng  từ kinh tế Trung Quốc. Trong trường hợp kịch bản Trung Quốc hạ cánh cứng xảy ra, nó sẽ tác động như thế nào đến kinh tế Việt Nam? Theo ông, từ bây giờ Việt Nam cần phải làm gì để giảm thiểu những rủi ro do kinh tế Trung Quốc ảm đạm đem lại?

Trung Quốc hạ cánh cứng ảnh hưởng đến xuất khẩu và nhập khẩu. Kim ngạch thương mại Việt- Trung năm 2015 đạt gần 60 tỷ USD, nếu kinh tế Trung Quốc suy thoái tức là họ sẽ hạn chế nhập khẩu từ Việt Nam, đồng thời xuất khẩu của Trung Quốc cũng hạn chế, trong khi Việt Nam buộc phải nhập khẩu hàng của các nước khác. Đó cũng vấn đề khó khăn, tất nhiên chất lượng hàng của nước khác chất lượng cao nhưng giá thành cũng rất cao.

Năm nay nếu TPP vận hành thuận lợi, quan hệ kinh tế Việt-Trung sẽ giảm bớt tầm quan trọng của nó nhưng đó là cả một quá trình chứ không phải diễn ra trong 1-2 được. Các chuyên gia trước đây vẫn nói kinh tế Mỹ hắt hơi thì các nước cảm cúm, giờ kinh tế Trung Quốc hạ cánh cứng thì không chỉ Việt Nam mà toàn bộ khu vực châu Á cũng như nhiều nước khác trên thế giới, ngay cả Mỹ cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi quan hệ thương mại Trung-Mỹ hiện đạt hơn 500 tỷ USD. Việt Nam phải sẵn sàng cho khả năng kinh tế Trung Quốc sụp đổ nhưng tôi cho rằng khả năng đó khó xảy ra.

Trong 5 năm qua, nhiều bình luận quốc tế và bình luận tại Việt Nam nói rằng kinh tế Trung Quốc không lâu nữa sẽ sụp đổ hoặc hạ cánh cứng, ngoài việc họ không nắm vững về bản chất kinh tế Trung Quốc, có thể còn có động cơ chính trị trong đó.

Việt Nam giảm phụ thuộc vào kinh tế Trung Quốc thế nào tùy thuộc vào chiến lược cụ thể của doanh nghiệp và Nhà nước. Nhưng trong quá trình sắp xếp lại cơ cấu kinh tế trong nước, rà lại luật lệ về ngoại thương, mục tiêu giảm bớt sự phụ thuộc vào quan hệ kinh tế với Trung Quốc và phù hợp với những cam kết mới với AEC, TPP và các FTA Việt Nam đã ký kết luôn được đặt ra. Nhưng việc đó phải suy nghĩ cụ thể và phải trong quá trình từng bước, không thể nóng vội. Cần cảnh giác với việc Trung Quốc chưa gia nhập TPP nhưng trong thời gian này họ sẽ lợi dụng thị trường Việt Nam, với chiêu bài "con ngựa thành Troy", thông qua hoạt động thương mại và đầu tư ở thị trường Việt Nam để tìm kiếm lợi ích trong khối TPP.

Chúng ta cũng chuẩn bị khả năng Trung Quốc sẽ gia nhập TPP, dù chưa biết năm nào. Khi Trung Quốc gia nhập TPP thì vấn đề được đặt lại như thế nào? Đây là câu chuyện dài nhưng không có nghĩa Trung Quốc tham gia TPP thì Việt Nam không đặt vấn đề giảm phụ thuộc vào Trung Quốc vì trong nội bộ các nước TPP cũng có quan hệ lệ thuộc.

Vấn đề nghiêm trọng nhất khi Trung Quốc tham gia TPP có nghĩa là thị trường Việt Nam hoàn toàn mở cửa 100% cho hàng hóa Trung Quốc. Hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc tăng trưởng rất khó vì cơ cấu ngành nghề và hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam và Trung Quốc có nhiều cái trùng hợp, nhưng khả năng hàng Trung Quốc chuyển sang Việt Nam rất lớn vì chất lượng, giá cả hàng của họ vượt trội hơn Việt Nam. Do đó, khi thị trường mở cửa thì Việt Nam chuyển đổi cơ cấu kinh tế thế nào? Đó là vấn đề của 5-7 năm nữa nhưng cũng cần tính đến.

Theo Báo Đất Việt