Chính phủ các nước giàu nên làm gì với cuộc khủng hoảng thiếu trẻ con?

Trung Mến

07:28 01/11/2017

BizLIVE -

Nếu không có đủ trẻ con, lấy đâu ra đủ người đi làm đóng thuế để nuôi những người già.

Chính phủ các nước giàu nên làm gì với cuộc khủng hoảng thiếu trẻ con?

Ảnh: Sora News

Chính phủ những nước giàu có nên cố thuyết phục người dân đẻ thêm con không? Nhiều chuyên gia xã hội học bảo thủ cho rằng có. Họ lo ngại rằng nếu không có thêm người trẻ lao động, gánh nặng chi trả tiền chăm sóc chữa bệnh lên vai của những người trẻ trong xã hội sẽ quá mức chịu đựng, theo một bài viết trên Bloomberg.
Nhiều người theo chủ nghĩa tự do lại cho rằng chính phủ các nước giàu nên cân nhắc mở cửa đón người nhập cư nhiều hơn, điều đó sẽ giúp giải quyết tốt các vấn đề về dân số.
Tuy nhiên, sự thật là sẽ chẳng bao giờ có một câu trả lời nào đúng cho tất cả các nước giàu. Tại Mỹ, việc tăng tỷ lệ sinh không hề khó. Hiện nay tỷ lệ sinh tại Mỹ đang ở mức 1,8 trẻ em/phụ nữ, gần sát tỷ lệ thay thế 2,1 trẻ em/phụ nữ - tỷ lệ đủ để đảm bảo cho sự ổn định dân số lâu dài. 
Cùng lúc đó, chính phủ Mỹ cũng vẫn mở cửa đón nhập cư, chính vì vậy họ thu hút được nhiều nhân tài có trình độ cao, mang đến nhiều đóng góp quan trọng cho xã hội Mỹ, ổn định tình hình tài khóa và tài chính. 
Thế nhưng đối với những nước giàu tại châu Âu và Đông Á, tình hình không lạc quan đến như vậy. Những nước này quan tâm nhiều hơn đến yếu tố nguồn gốc, chủng tộc và sẽ không hề dễ để mở cửa đón nhập cư nếu không muốn vấp phải sự phản đối mạnh mẽ từ nhiều phía. 
Ngoài ra, tình trạng không chịu sinh đẻ ở những nước này cũng đang ở mức tồi tệ. Tỷ lệ sinh tại Nhật hiện đạt mức 1,46; Đức 1,5; Hàn Quốc ở mức siêu thấp 1,24. Nếu không có thêm trẻ con, nhóm các nền kinh tế trên sẽ chịu tác động vô cùng nghiêm trọng. 
Vậy chính phủ các nước có thể tăng tỷ lệ sinh bằng cách nào? Nhiều chuyên gia xã hội học bảo thủ khẳng định rằng yếu tố tôn giáo sẽ có thể mang đến giải pháp, ví như tỷ lệ sinh trong giáo phái Mormon hay Do Thái rất cao. 
Tuy nhiên, dù tôn giáo có thể giúp tỷ lệ sinh cao trong một nhóm nhất định, hoàn toàn chính phủ các nước không thể khiến nó được phát triển trên diện rộng. 
Chính phủ Iran từ năm 1979 đến nay luôn theo đuổi đường lối chính sách phát huy tối đa các giá trị truyền thống. Mặc dù vậy tỷ lệ sinh tại Iran hiện nay thấp hơn nhiều so với mức cần thiết để thay thế. Tại Saudi Arabia, nơi giá trị truyền thống được tôn trọng khắt khe, tỷ lệ sinh cũng giảm không ngừng. 
Khi mà cả Iran và Saudi Arabia phải chứng kiến tình trạng tỷ lệ sinh giảm sâu, dường như chính phủ các nước giàu tại châu Âu hay châu Á không có nhiều hy vọng nếu họ muốn tăng được tỷ lệ sinh.
Vậy chính phủ các nước biết phải làm gì? Chính phủ Singapore cho đến nay đã không thành công trong tăng tỷ lệ sinh dù chính phủ đã làm đủ mọi cách để khuyến khích người ta kết hôn, trả tiền cho các cặp đôi đẻ con. 
Sự thất bại của chính phủ Singapore khiến nhiều người tin rằng các chính sách hỗ trợ sinh đẻ vô tác dụng. Tuy nhiên, trường hợp của Singapore có thể khá chuyên biệt bởi Singapore là quốc đảo quá nhỏ với tỷ lệ tập trung dân số cao. 
Những nước có nhiều khu vực ngoại thành với tỷ lệ tập trung dân số thấp sẽ có thể có nhiều điều kiện hơn để áp dụng chính sách khuyến khích sinh đẻ. 
Việc chi tiền khuyến khích người trẻ sinh đẻ có thể giúp tỷ lệ sinh tăng đột biến trong ngắn hạn. Thế nhưng thực ra nó lại liên quan đến vấn đề thời điểm, có nghĩa là với nhiều bậc cha mẹ, họ định sẽ có con, nhưng vì tiền hỗ trợ chỉ được đưa ra trong một thời điểm nào đó nên họ quyết định sinh con sớm hơn chứ không phải vì chính sách đó mà họ sẽ đẻ nhiều hơn. 
Vì vậy, trong dài hạn nhìn chung tỷ lệ sinh chẳng có gì thay đổi. Một số nghiên cứu còn phát hiện ra rằng chính sách hỗ trợ sinh con giúp tăng tỷ lệ sinh ngay cả sau khi thời gian được hỗ trợ tài chính kết thúc, tuy nhiên, hiệu quả về dài hạn vẫn không thay đổi gì. 
Có hai chính sách khác cho đến nay đã bộc lộ được nhiều ưu điểm bao gồm hỗ trợ nuôi con và hỗ trợ cho phép cha mẹ nghỉ để chăm sóc con. Xét theo quan điểm kinh tế học, hai chính sách này giúp cho việc nuôi dậy con trở nên đỡ áp lực hơn, nó làm giảm chi phí cơ hội mà các bậc cha mẹ phải mất đi khi họ có thêm con. 
Chính sách đó giúp họ không phải sợ hãi về việc họ sẽ mất đi vị trí mà họ đang có trong công việc hoặc thậm chí phải bỏ việc để chăm con. Khi một người phụ nữ phải ngồi nhà chỉ để có con, sẽ chẳng có đồng tiền nào của chính phủ có thể bù đắp lại việc này. 
Rõ ràng các chính sách kiểu như trên đã giúp tăng tỷ lệ sinh. Chuyên gia nhân khẩu học Olivier Thevenon và Anne Gauthier đã khảo sát tình hình tại các nước giàu và phát hiện ra rằng những chính sách giúp cân bằng được cuộc sống gia đình và công việc sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyết định có con hay không có con của các cặp đôi. 
Chính vì vậy, nếu muốn tăng tỷ lệ sinh mà không phải mở cửa đón nhập cư, chính phủ những nước như Nhật, Đức, hay Hàn Quốc cần tạo điều kiện giúp các bậc cha mẹ cân bằng giữa cuộc sống gia đình và công việc. 
Chính sách hỗ trợ nghỉ việc chăm con và trợ cấp nuôi con không hề rẻ nhưng thực sự nó giúp phát huy tác dụng. Và đến ngay cả những nước như Mỹ nơi tỷ lệ sinh gần đủ mức thay thế cũng cần phải cân nhắc đến việc giảm bớt áp lực cho các cặp vợ chồng trẻ bằng chính sách hỗ trợ nuôi con.

TRUNG MẾN

BizLIVE Gặp gỡ