“Mong muốn nhất là đừng phải tái cơ cấu một lần nữa”

BizLIVE

12:30 23/10/2015

BizLIVE -

Sau gần 4 năm thực hiện tái cơ cấu, hệ thống các tổ chức tín dụng có diện mạo như thế nào? Những vấn đề tồn tại, yếu kém của hệ thống các tổ chức tín dụng như quản trị yếu kém, sở hữu chéo, nợ xấu, xử lý những ngân hàng yếu kém… đã được giải quyết ra sao? 

“Mong muốn nhất là đừng phải tái cơ cấu một lần nữa”
Đây là những vấn đề mà dư luận trong nước và quốc tế luôn theo sát và quan tâm, đặc biệt thời điểm Đề án 254 sắp kết thúc và ngành ngân hàng đã chuẩn bị gì khi Việt Nam chính thức tham gia sân chơi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) trong thời gian tới.
Yêu cầu cấp bách phải trả lời những câu hỏi đó là lý do để Viện Kinh tế Việt Nam và Báo điện tử Diễn đàn Đầu tư - BizLIVE phối hợp tổ chức Hội thảo “Định vị hệ thống ngân hàng sau tái cơ cấu”, diễn ra từ 8h - 12h00 ngày 23/10/2015 tại khách sạn Hilton, Hà Nội.
 Nhiều khách mời đến tham gia thảo luận tại Hội thảo

Nhìn lại chặng đường tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng: 

(Đoạn phim có sử dụng tư liệu của các ngân hàng, báo chí) 
"Sau 4 năm mới thấy tái cơ cấu khó khăn thế nào"
Phát biểu mở đầu Hội thảo, TS. Trần Đình Thiên cho biết “Tái cơ cấu hệ thống Ngân hàng là một nhiệm vụ chiến lược lớn được triển khai quyết liệt trên thực tiễn, đồng thời là một chủ đề thảo luận nóng bỏng trên các Diễn đàn và các phương tiện truyền thông đại chúng”.
Ông Thiên cho rằng chúng ta vẫn phải nhìn lại quá trình tái cơ cấu và quả thực có điểm căn bản là sau 4 năm mới thấy tái cơ cấu khó khăn như nào. 
Nhóm tư vấn Thủ tướng từng báo cáo sau 3 năm tái cơ cấu như này xem lại cách: khả năng đặt ra là khó quá, làm toát mồ hôi nhưng chưa xoay chuyển, phải xem nhận thức khó như nào để làm nếu không vô ích.
Thứ hai, do nhận thức đầy đủ không khó lắm phải xem lại việc làm đã đáng làm hay không hay dễ làm khó bỏ. 
Khả năng thứ 3 vừa nhận thức kém vừa làm kém, xưa nay chủ yếu là hành động kém.
"Khi đặt vấn đề như vậy cách nhìn nhận về tái cơ cấu cần đánh giá lại tổng thể, toàn diện, tôi là người nghi ngờ tất cả. Ngay vấn đề tái cơ cấu là gì, chức năng như nào, tôi cho rằng chưa chắc đã thấu đáo, áng áng còn cụ thể tận cùng nguyên nhân căn gốc chưa đầy đủ. Hoặc câu hỏi tái cơ cấu một mình ngân hàng nhà nước làm được không?"
 PGS.TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam phát biểu tại Hội thảo
"Có lần tôi nói với Thống đốc Bình rằng tái cơ cấu là tốt lên rồi nhưng nguy cơ cực lớn do hệ thống doanh nghiệp yếu làm nền tảng gắn với ngân hàng không thể vận hành tốt được" - ông Thiên thẳng thắn chia sẻ.
4 nhóm vấn đề ngân hàng phải xử lý
Theo PGS.TS. Trần Đình Thiên, có 4 nhóm vấn đề ngân hàng phải xử lý:
Thứ nhất, bản thân ngân hàng có vấn đề. Việt Nam có “hội chứng” từ mía đường, bia, xi măng, đại học, ngân hàng cũng có nguy cơ hội chứng là thành lập thương mại cổ phần và từ ngân hàng nông thôn phát triển thành ngân hàng đô thị, phát sinh nhiều vấn đề, ẩn sau đó là nền móng của sở hữu chéo
Thứ hai, nền kinh tế áp dụng quá lâu mô hình tăng trưởng trong đó mô hình tăng trưởng dựa vào vốn tín dụng dễ dàng. Được tuyên truyền là cơ hội của nền kinh tế, về mặt nguyên lý là “ngon” nhưng càng "ngon" càng chứa đựng nhiều rủi ro. 
Thứ ba, ngân hàng phải gánh vác nhiệm vụ, nhiều việc không phải của mình. Từ hệ thống ngân hàng chỉ phục vụ nhà nước sang nhân dân nhưng vừa qua Ngân hàng Nhà nước lại chuyển sang phục vụ nhà nước. Điều này đang đặt ra câu chuyện nhiều vấn đề phải bàn. Khi ngân hàng làm nhiều việc không phải của mình không làm giỏi được thậm chí sai, cái sai nghiêm trọng là chức năng. Hiện tái cơ cấu ngân hàng cần xem lại. 
Thứ tư, khi nền kinh tế rơi vào khẩn cấp thường sử dụng nhiều biện pháp hành chính. Sau khi vào WTO lạ lùng là đáng nhẽ thị trường hoá nhiều hơn. Chính những biện pháp hành chính mang tính chữa cháy càng làm bất ổn tăng thêm.
Cho nên 4 yếu tố đó, bàn về tái cơ cấu ngân hàng bắt nguồn từ hệ nguyên nhân nào phải xử lý từ nguyên nhân đó. 
Hội thảo có những điểm phải nhìn nhận phải vượt quá quá khứ, nhiều việc tái cơ cấu ngân hàng không chỉ ngân hàng làm được mà cần sự hỗ trợ nhiều từ hành động tái cơ cấu khác. 
Thông tin sơ bộ xử lý nợ xấu, quá trình kiến tạo, bao nhiêu ngân hàng xoá sổ nhưng còn nhiều vấn đề đặt ra, nổi lên có:
Một là nhìn nhận vấn đề nợ xấu, đây là một trong những vấn đề then chốt giải quyết như nào, hệ thống minh bạch làm sao để ngân hàng nói và phải tin ngay. 
Thứ hai, gắn với tiềm năng gây ra ý kiến có tính xung đột cao chính là vấn đề mua ngân hàng với giá 0 đồng.
Ngân hàng còn đang phải đối mặt với hội nhập và chỉ cần theo WTO độ trễ trong hội nhập, ngân hàng, doanh nghiệp đương đầu hội nhập như thế nào…
"Máu đông tan dần"
Ghi nhận khái quát kết quả nổi bật của quá trình tái cơ cấu các TCTD giai đoạn 2011-2015, ông Đặng Ngọc Đức, Viện trưởng Viện ngân hàng và tài chính, Đại học Kinh tế Quốc dân, đề ra 4 mảng chính. 
Ông Đặng Ngọc Đức, Viện trưởng viện ngân hàng và tài chính, Đại học kinh tế quốc dân 
Thứ nhất, vấn đề thiếu thanh khoản của hệ thống được giải quyết. Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái và kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, lạm phát phi mã, vấn đề thanh khoản của hệ thống ngân hàng Việt Nam đã trở nên nghiêm trọng khi lãi suất liên ngân hàng có lúc đã lên đến 30% và đẩy lãi suất huy động lên đến 18-20% vào thời điểm cuối năm 2011 đầu năm 2012, vượt xa mức trần mà NHNN đặt ra. 
Nhiều ngân hàng gần như rơi vào tình trạng mất thanh khoản, có nguy cơ đổ vỡ, đe doạ sự an toàn và ổn định của hệ thống. 
Việc hỗ trợ thanh khoản thông qua hoạt động thị trường mở, một mặt đã giúp cải thiện tình hình thanh khoản của hệ thống ngân hàng, khai thông ách tắc của thị trường liên ngân hàng, nhưng mặt khác lại không gây ra sức ép lạm phát do những biện pháp hút tiền về đúng kỳ hạn của NHNN. 
Nhờ vậy, tình trạng thanh khoản của các tổ chức trong hệ thống đã được cải thiện, trở nên ổn định và khá dồi dào từ giữa năm 2012. 
Thứ hai, các tổ chức tín dụng yếu kém được xử lý. Các tổ chức có quy mô lớn hơn và có tình hình tài chính tốt đã tham gia vào việc tái cấu trúc các TCTD nhỏ hơn. 
Trong đó, đáng chú ý là việc khuyến khích thực hiện giải pháp sáp nhập, hợp nhất, mua lại giữa các TCTD, lành mạnh hoá tài chính, tăng quy mô và chất lượng vốn tự có.
Thứ ba, tạo được nền tảng và trụ cột cho phát triển bền vững hệ thống ngân hàng thông qua cơ cấu toàn diện các TCTD hoạt động bình thường. 
Các NHTM Nhà nước tiếp tục đóng vai trò chi phối trong hệ thống các TCTD cả về quy mô về vốn, tài sản, huy động vốn và tín dụng. 
Thứ tư, sáng tạo và thành công trong xử lý nợ xấu với các biện pháp phù hợp với điều kiện của Việt Nam. 
Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC) được thành lập dưới hình thức doanh nghiệp đặc thù do Nhà nước sở hữu 100% vốn, chịu sự quản lý, giám sát trực tiếp của NHNN, tham gia xử lý nợ xấu của hệ thống ngân hàng. 
Tính đến 31/8/2015, hệ thống các TCTD đã xử lý được trên 420 nghìn tỷ đồng nợ xấu, tương đương khoảng trên 91% tổng số nợ xấu ước tính tại thời điểm tháng 9/2012. Kết quả xử lý nợ xấu nói trên đã đưa tỷ lệ nợ xấu đến tháng 8/2015 chỉ còn 3,21% và đến tháng 9/2015 chỉ còn khoảng 2,9%. 
Có thể nói, “cục máu đông” nợ xấu đã được xử lý “tan dần”, ông Đức nhận định. 
Những “nút thắt“ trong tương lai
Tuy nhiên, hiệu quả của quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng cũng phụ thuộc nhiều vào kết quả tái cấu trúc các bộ phận, khu vực khác. Ông Đức chỉ ra một số trở ngại có thể ảnh hưởng quá trình tái cơ cấu giai đoạn 2011-2015.
Thứ nhất, Chính phủ cần chỉ đạo các Bộ, ngành liên quan phối hợp NHNN thực hiện đồng bộ các giải pháp tái cơ cấu hệ thống các TCTD, triển khai các biện pháp miễn, giảm thuế, phí liên quan đến mua bán nợ xấu và các tài sản bảo đảm tiền vay của TCTD được cơ cấu lại. Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các tổ chức tín dụng sau khi thực hiện mua lại, sáp nhập, hợp nhất; miễn, giảm thuế, phí hợp lý đối với quỹ tín dụng nhân dân và tổ chức tài chính vi mô. 
Thứ hai, cần có các biện pháp xử lý các nút thắt về tài sản đảm bảo, hỗ trợ các TCTD đẩy nhanh tiến độ và hiệu quả xử lý tài sản đảm bảo phù hợp với các điều khoản thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu trong toàn hệ thống. 
Thứ ba, xem xét tăng vốn cho các Ngân hàng thương mại nhà nước để tăng năng lực tài chính của các Ngân hàng thương mại nhà nước, bảo đảm đủ mức vốn tự có theo tiêu chuẩn an toàn vốn của Basel II.
Thứ tư, cần có sự phối hợp đồng bộ hơn nữa giữa tái cấu trúc các TCTD với tái cơ cấu các doanh nghiệp Nhà nước, tái cấu trúc đầu tư công, tái cơ cấu nông nghiệp.
Ngân hàng Nhà nước phải chịu đi "đánh du kích"
Chia sẻ tại Hội thảo, TS. Trần Du Lịch, Ủy viên Ủy ban kinh tế Quốc hội, thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia cho biết, tái cấu trúc hệ thống tổ chức tín dụng diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam bất ổn vĩ mô, nguy cơ lạm phát phi mã. Thời điểm ấy, chúng ta đang thực hiện theo Nghị quyết 11 của Chính phủ là siết chặt công chi, tín dụng; giảm tổng cầu để chống lạm phát. Đó là một bối cảnh thực hiện chính sách tài chính tiền tệ ưu tiên chống lạm phát.
Năm 2012, tín dụng giảm; tác dụng của các biện pháp kiềm chế lạm phát làm cho tổng cầu giảm, tình trạng kinh tế bắt đầu giảm tốc độ tăng trưởng. Khi ấy, sức mua thị trường giảm, doanh nghiệp giảm sản xuất, nhiều doanh nghiệp không còn khả năng trả nợ đáo hạn. Giữa năm 2012, tình trạng nợ xấu xuất hiện rất mạnh, rất nhanh.
 
TS. Trần Du Lịch, Ủy viên Ủy ban kinh tế Quốc hội phát biểu tại hội thảo
“Nền kinh tế rơi vào luẩn quẩn. Tái cấu trúc tổ chức tín dụng trong tình thế phải giải quyết một phương trình quá nhiều ẩn số, mà những ẩn số mâu thuẫn nhau: vừa phải chống lạm phát, vừa phải hạ lãi suất, vừa phải tăng tín dụng, vừa phải giảm nợ xấu, vừa phải ổn định tỷ giá VND”, ông Lịch cho biết.
Thời điểm ấy, tại TP.HCM 33% doanh nghiệp vẫn làm ăn tốt, đóng được thuế, vẫn được vay ngân hàng với mức lãi suất bình thường. 33% các doanh nghiệp đang đợi vay ngân hàng. Còn lại doanh nghiệp mà theo tiêu chuẩn nợ xấu không thể vay được.
Tháng 7/2012 tại TP.HCM, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và TP.HCM cùng ngồi lại bàn và triển khai cách thức cho vay với các doanh nghiệp với tên gọi “nối kết doanh nghiệp”.
Cách làm như vậy không giống ai, Ngân hàng Nhà nước, với chức năng của mình không thể ngồi bàn việc cho vay tiền từng doanh nghiệp được. Nhưng tôi cho rằng đây là làm cách của riêng Việt Nam, “không đánh chính quy được thì phải đánh du kích”. Và NHNN phải chịu đi đánh du kích.
Liệu có thể giảm lãi suất?
Đồng thời, tại TP.HCM triển khai chính sách ưu đãi tín dụng cho 5 ngành: Xuất khẩu, nông nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, các ngành ưu tiên trong lĩnh vực mà nền kinh tế phải phục vụ phát triển.
TP.HCM báo cáo các ngành ưu tiên chiếm 70% tín dụng đã cấp. Ngoài ra, các địa phương như TP.HCM còn hỗ trợ lãi suất thêm cho các hộ nông dân sản xuất các cây, các con phù hợp với nền nông nghiệp sinh thái và công nghệ cao thành phố.
Theo ông Lịch, kết quả đạt được 7.880 doanh nghiệp đã được vay. Số tiền vay lũy kế đã lên đến vài trăm ngàn tỷ đồng. Quan trọng nhất là những doanh nghiệp cho vay dưới chuẩn này là những doanh nghiệp không bị vướng nợ xấu mới. Tổ chức tín dụng cho vay vừa giải quyết được nợ xấu cũ, vừa thu được nợ mới đúng hạn.
Với 137.000 tỷ đã được giải ngân cho khoảng 139.000 khách hàng được vay ưu tiên, nhưng công nghiệp cao không phát triển được. Trong đó cho vay lãi suất ngắn hạn 67%, trung hạn 9%.
Không lẽ chúng ta điều hành theo phương thức “đánh du kích” mãi? Liệu bao giờ chúng ta có thể đánh chính quy? Báo cáo Ngân hàng Nhà nước TP.HCM cho rằng cần phải tiếp tục bởi kinh tế TP.HCM trong thời gian qua phát triển như thế là do cách thức này triển khai tốt, các đơn vị được vay phát triển tốt.
Kiến nghị Ngân hàng Nhà nước, trong bối cảnh hiện nay, từ đầu năm 2016 có thể giảm lãi suất được không? Với lạm phát dưới 2% mà phải vay trung dài dạn 9- 10% thì liệu có thể giảm khoảng 2% xuống 7% được không?
Lãi suất này tùy thuộc tình hình thực tế vào sự cạnh tranh giữa ngân sách với thị trường. Năm 2016 sẽ phát hành 60.000 tỷ trái phiếu còn lại trong gói 170.000 tỷ thì liệu có thể giảm lượng phát hành để giảm nợ công?
"Hiện nay, mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp lớn nhất là vấn đề lãi suất, có thể giảm lãi suất xuống được không?", TS. Trần Du Lịch đưa ra câu hỏi.
Không tiền vẫn “tái” thành công 
Cũng tham gia thảo luận tại hội thảo, chuyên gia tài chính ngân hàng Lê Xuân Nghĩa nhấn mạnh: “Công cuộc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng đã chứng tỏ bản lĩnh của Ngân hàng Nhà nước”.
Nhớ lại năm 2011, bối cảnh nền kinh tế khi đó lạm phát lên tới 20%, giá vàng một ngày có thể tăng giá đến 20 lần. Các ngân hàng lao vào kinh doanh vàng. Thời điểm, kinh doanh vàng được cho là “con gà đẻ trứng vàng”, ông Nghĩa gợi lại.
Ông Nghĩa nhớ lại, thời điểm đó việc người dân, ngân hàng, doanh nghiệp đổ xô vào kinh doanh vàng, buôn lậu vàng khiến cho dự trữ ngoại tệ giảm từ 23 tỷ USD xuống 7 tỷ USD. Còn vấn đề lãi suất thì tăng cao. Thanh khoản bất ổn khiến các ngân hàng đua nhau tăng lãi suất. 
“Thậm chí đến bà xã tôi ngày nào cũng đi rút tiền ra rồi gửi vào ngân hàng khác để ăn chênh lãi suất. Còn NHNN, còn phải đi xe máy để kiểm tra xem ngân hàng nào vi phạm huy động lãi suất. Hệ thống ngân hàng rơi vào tình trạng nguy hiểm thật sự, đặc biệt là những ngân hàng có những ông chủ là các tay buôn bất động sản.
Có thể nói thời 2008 – 2009, chưa bao giờ hệ thống ngân hàng lại tồi tệ đến thế, nhiều lãnh đạo ngân hàng rơi vào vòng lao lý. Nhưng hiện giờ, chúng ta đã vượt qua thời điểm gai góc trên trong vòng một thời gian khá ngắn là 3 năm”, ông Nghĩa nhớ lại.
Chuyên gia tài chính ngân hàng Lê Xuân Nghĩa 
Ông Nghĩa cho biết, tái cấu trúc ngân hàng là nhiệm vụ mà NHNN phải tự lực cánh sinh, tiền không có, các bộ luật pháp lý không hề suy chuyển, ông chỉ ra.
“Với số tiền nhỏ nhoi từ các gói tái cấu trúc nợ cho doanh nghiệp, dự phòng rủi ro, VAMC với vốn và cơ chế hoạt động hạn chế, thì thực sự những gì NHNN đã thể hiện được cho là minh chứng của sự bản lĩnh và kiên định”, ông Nghĩa bình luận. 
Trong một quá trình đầy cam go như vậy, nhiều người đặt ra các nghi vấn. Tại sao độc quyền vàng? Tại sao “đuổi vàng” ra khỏi NHNN? Tại sao mua ngân hàng với giá 0 đồng?
Mua ngân hàng với giá 0 đồng thực sự là phương sách vững chắc về mặt pháp lý. Điều 149 Luật Các tổ chức tín dụng nêu rõ NHNN có quyền trực tiếp mua hoặc chỉ định TCTD khác mua lại ngân hàng yếu kém, những ngân hàng thuộc diện kiểm soát đặc biệt, nếu ngân hàng đó không thực thiện được việc tăng vốn, không thực hiện phương án tăng vốn theo quy định của NHNN.
Tại sao là 0 đồng?
Giải thích tại sao lại là 0 đồng, TS. Lê Xuân Nghĩa cho biết NHNN đã mời các công ty định giá độc lập đến định giá ngân hàng, khi nợ xấu vượt 2, 3 lần vốn tự có, thì ngân hàng này không còn giá trị. 
Tại sao lại phải là NHNN mua, sao không để ngân hàng ngoại thương mua? Vì NHNN đã có kinh nghiệm. Nhưng ngân hàng bệnh tật không chỉ mập mờ trong bảng báo cáo chất lượng tài sản, mà họ cũng rất “tự kiêu”, cho rằng tài sản của mình đáng giá ngàn vàng.
Hơn nữa, tất cả các ngân hàng bị mua đều đã được cho thời hạn khắc phục trong hai năm, nhưng họ cũng không gượng dậy được. 
“Lúc này, cần phải NHNN ra tay, chấm dứt những trò mặc cả, chây ì, coi thường quá trình phục hồi kinh tế của toàn quốc gia”, ông Nghĩa chỉ ra.
Trả lời câu hỏi thứ ba là “NHNN lấy đâu ra tiền mà mua?”, Ts. Lê Xuân Nghĩa cho biết, thực ra NHNN không tốn đồng nào. Họ mua không phải là “xòe tiền” ra mua lại tài sản, mà mua là để chấn chỉnh lại hệ thống của ngân hàng đó, sau đó bán lại cho một ngân hàng khỏe mạnh hơn 
Trong trường hợp đặc biệt, NHNN có thể cho vay tái cấp vốn đặc biệt đối với ngân hàng này. Do đó những ngân hàng được mua 0 đồng cho đến giờ vẫn hoạt động khá ổn định. 
“Đấy là một biện pháp sáng tạo, tôi phải khẳng định. Với câu hỏi có nhất thiết phải là NHNN đứng ra mua không? Tôi cho rằng đó là cách làm nhanh nhất, không để các ngân hàng yếu kém cò kè mặc cả, bảo vệ tài sản của họ nhưng coi lợi ích của người gửi tiền là rơm rác”, ông Nghĩa bình luận.
Ngoài ra, đến giờ phút này, chúng ta có thể hoàn toàn yên tâm với thanh khoản. 
“Trong môi trường lãi suất thấp, thanh khoản giữ được ở mức như này là quá tốt. Trước đây IMF luôn cổ vũ Việt Nam duy trì tăng trưởng tín dụng dưới 20%, thì chúng ta luôn mấp mé 30%, như vậy mức tăng trưởng tín dụng hiện tại ở 17% là không hề cao. Đây là điều tôi đánh giá cao nhất ở phía NHNN”, ông Nghĩa nhận định.
Giờ đây, chất lượng tài sản của các ngân hàng căn bản là “sạch”. “Mặc dù tới một nửa trong 420.000 tỷ đồng nợ xấu đang nằm trong VAMC. Nhưng cũng phải hiểu cho VAMC là trong bối cảnh khung pháp lý còn rắc rối như hiện nay, xử lý chúng là rất khó”, ông Nghĩa bình luận.
Thời gian qua, toàn bộ hệ thống ngân hàng đang dốc toàn lực để xử lý nợ xấu, lập dự phòng rủi ro, nên khả năng sinh lợi thấp, chỉ bằng một nửa bình thường. Trong bối cảnh lãi suất thấp như hiện nay, phải coi việc phục hồi khả năng sinh lợi của NHTM là yếu tố được ưu tiên trọng điểm để phục vụ cho quá trình hiện đại hóa. 
“Tiềm lực tài chính không đủ mạnh thì các ngân hàng không thể đẩy mạnh công nghệ, các ngân hàng lớn chắc chắn sẽ tụt hậu”, ông Nghĩa nói.
Cho đến nay, Việt Nam đã giải quyết được căn bản các vấn đề của ngành ngân hàng để phục vụ cho quá trình hiện đại hóa trong thời gian tới. 
“Nhưng tôi được biết, Thống đốc NHNN cho biết giai đoạn vừa qua mới là tiền đề cho một giai đoạn hiện đại hóa ngân hàng theo chuẩn mực quản trị của Basel II và OCED”, ông Nghĩa để ngỏ.
Tại sao các ngân hàng thương mại nhà nước không dám nhảy vào mua lại các ngân hàng yếu kém?
“Vì sao chúng ta phải tái cơ cấu? 'Bình ô xy của hệ thống' ngân hàng thời điểm trước tái cơ cấu rất khó khăn. Nhưng bây giờ, các ngân hàng đã có thể thở bằng chính bình ô xi của mình” TS. Trương Văn Phước, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia mở đầu bài tham luận tại hội thảo.
Ông Phước cho biết, cho đến thời điểm này, các ngân hàng trong diện tái cơ cấu đã có nhiều thành tựu, vốn chủ sở hữu đã tăng lên 18%, vốn huy động đã tăng 147%, tín dụng tăng 87%, dự phòng rủi ro tăng 146%. Chứng tỏ rằng các ngân hàng đã hoạt động tốt lên rất nhiều.
TS. Trương Văn Phước, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia
Cũng theo ý kiến của ông Phước, khái niệm 0 đồng mà chúng ta đưa ra là quá vắn tắt, thị trường không hiểu. Hệ thống văn bản pháp luật của chúng ta chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định rõ khái niệm “0 đồng”.
Việc NHNN mua lại toàn bộ cổ phiếu hiện hữu của các cổ đông vì âm vốn chủ sở hữu chứ không phải là mua lại ngân hàng.
Đồng thời, ông Phước cũng đặt ra câu hỏi: “Tại sao các ngân hàng thương mại nhà nước không dám nhảy vào mua lại các ngân hàng yếu kém”?
Trước đây, Exim bank nợ xấu 76%, nhiều người đã hỏi tại sao khi đó Vietcombank lại nhảy vào? Thực chất, khi đó, đứng sau Vietcombank chính là Ngân hàng Nhà nước.
Ngoài ra, tái cấp vốn là do các ngân hàng đang bị lỗ, nguồn vốn huy động đang phải trả lãi nhưng nguồn vốn đang cho vay lại bị nợ xấu không thu hồi được.
Đồng thời, chúng ta không có cơ chế hạch toán giữa tài sản có và tài sản nợ. Việc tiếp tục thu lỗ của các ngân hàng trong diện 0 đồng đó là chắc chắn. Nhưng trong vòng 2 -3 năm các ngân hàng đó sẽ ngưng lỗ. Việc phục hồi các ngân hàng 0 đồng là trong tầm tay.
Các ngân hàng trong diện 0 đồng lỗ mấy chục nghìn tỷ là sai. Việc có thông tin ấy là lỗi của NHNN khi đưa thông tin không rõ ràng. Thực tế, giá trị của tài sản bảo đảm đã không được nhìn nhận trên cơ sở của tính sở hữu hợp pháp tài sản đó.
"Nợ xấu đang được bán ở VAMC vẫn còn tính nhiêu khê"
Nợ xấu là vấn đề gây tranh cãi. Có 2 đoàn của IMF và Moody đã đi khảo sát thực tế tại Việt Nam. Đoàn IMF đi khảo sát các điều kiện của IMF trong hàng năm và đoàn của Moody đang nghi ngờ việc vì sao nợ xấu của Việt Nam đang được xử lý quá nhanh.
Việc xử lý nhanh là hợp lý, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang chuyển từ không gian định chuẩn là nợ xấu không gian đối nội là kết tinh ở VAMC.
“Kết quả đạt được với việc xử lý nợ xấu là: 45% đang ở VAMC, 28% dự phòng rủi ro, 27% giải pháp khác là thu nợ và xiết nợ”, ông Phước dẫn chứng.
Tuy nhiên, nợ xấu đang được bán ở VAMC vẫn còn tính nhiêu khê. Đồng thời, tính pháp lý ở đây đang là rào cản việc các đơn vị nước ngoài nhảy vào mua lại nợ xấu theo giá thị trường.
“Xử lý nợ xấu ở Việt Nam đang được NHNN xử lý bằng mưu, còn cần phải có thời gian để xử lý thực tế. Và việc định vị hệ thống cần có thời gian nữa”, ông Phước nhấn mạnh.
Ông Phước tổng kết bài toán NHNN đang cần xử lý là bài toán lãi suất, mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá. Đây là bài toán mà Ngân hàng Nhà nước có thể xử lý được. Ngoài ra, hội thảo diễn ra trong bối cảnh kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII, có vai trò rất quan trọng trong việc truyền đạt lại thông tin tới các Đại biểu Quốc hội và công chúng đúng đắn nhất.
"Chỉ cần thiếu 3 điều là tái cấu trúc thua cả trận"
“Thay vì nói về tái cấu trúc hệ thống, tôi muốn nói về tái cấu trúc dưới góc độ quản trị. Chúng ta cứ loay hoay tổng kết trong khi nhà đầu tư đã 'đổ máu' đầy sàn rồi”, TS. Lê Thẩm Dương, Trưởng khoa tài chính của trường Đại học Ngân hàng TP.HCM chia sẻ.
Để tái cấu trúc thành công, theo kinh nghiệm quản trị của thế giới, chỉ cần làm thiếu 3 cái là chúng ta thua cả trận. 
Một là chọn vấn đề "tái". Chọn nhầm là chết. Mà không quốc gia nào chọn giống nhau, vậy chọn cái gì cho đúng là cả một vấn đề. 
Hai là thời gian chuẩn bị "tái". Đến ¾ thời gian công cuộc tái cấu trúc là dành để chuẩn bị. Giống như luộc một nồi bánh chưng, chuẩn bị mất 50 ngày mà luộc mất có năm ngày thôi. 
Ba là hành vi "tái".
“Nhìn lại trong 3 năm vừa rồi, thực sự ban đầu có những cái tôi lên tiếng phản đối. Nhưng dần dà, tôi chuyển từ phản đối sang cảm phục.”, ông Dương thừa nhận.
TS. Lê Thẩm Dương, Trưởng khoa tài chính của trường Đại học Ngân hàng TP.HCM 
Nhiều người ảo tưởng rằng tái là sẽ tốt hơn sau khi "tái", nhưng không phải.  Không "tái" thì chắc chắn chết, đó là quy luật của sự vận động. Nhưng "tái" mà không đúng cách thì còn chết sớm hơn nhiều. 
“Mà đến ngày hôm nay, chúng ta chưa chết đã là thành công rồi, mà lại còn thành công nữa thì là thành công nhân đôi”.
Theo kinh nghiệm của thế giới, có hai nguyên tắc để chọn vấn đề tái. Một, nếu vấn đề "tái" được người lãnh đạo và chuyên gia chọn, thì chắc chắn sai. 
Hai, người chọn vấn đề "tái" phải là người trực tiếp làm. Giống như trong một căn bếp, muốn sửa chữa mua mới, thì phải là người đầu bếp chỉ ra. 
Cho nên, việc ban lãnh đạo của NHNN để chế độ tham dự, đặc biệt là nguyên tắc hiện trường là cực kỳ tuyệt vời. Cho những người tham dự chung tay làm, đó là lựa chọn đúng - ông Lê Thẩm Dương khẳng định.
"Chuẩn bị tái"
Việc chuẩn bị  mất 3, 4 năm là chuyện bình thường. Gói 30.000 tỷ không thành công một phần cũng do thời gian chuẩn bị còn thiếu, tương tự với dự án mía đường, dự án 112 cấp chính phủ…
Đầu tiên, phải chọn người lãnh đạo tái. Vừa rồi, NHNN nhận vị trí chỉ huy. Để chuẩn bị, người lãnh đạo 
"tái" 
là pháp nhân phải hội tụ đủ 3 quyền, ông Dương liệt kê.
Đầu tiên là pháp lý, người lãnh đạo phải được trao đủ quyền để chi phối. 
Hai là chuyên môn, người lãnh đạo phải làm cho kẻ bị "tái" tâm phục, khẩu phục. 
Ba là cá nhân, người lãnh đạo phải đại diện cho sự minh bạch, đàng hoàng. 
“Chúng ta thành công vì chúng ta có đủ ba cái trên”, ông nói.
Thứ nhất là pháp lý. Ở một số quốc gia, phải thành lập một người lãnh đạo dưới dạng tổ chức ma trận, tức chính phủ phải cấp. 
Còn ở Việt Nam, NHNN được trao quyền không chính thức như một Ngân hàng Trung ương, đồng thời chính phủ “cho” thêm quyết định 48, 54, 255, từ đó, NHNN mới đủ quyền để cho ra 02, 09, 06…
Thứ hai là chuyên môn. Nó thể hiện ở tính quyết đoán, thấy sai là sửa. Khi xử lý, NHNN biết kết hợp nguyên lý của nghề với yếu tố dân tộc, chứ mang mô hình của nước ngoài về dập vào Việt Nam. 
Năm 2011, tình hình vĩ mô bất ổn, lãi suất cực cao, thị trường tài chính nhốn nháo, nhưng ngân sách lại không có. NHNN lại  cam kết không dùng đến vốn ngân sách. Mua ngân hàng bằng 0 đồng. Dám làm như vậy, chứng tỏ chuyên môn “cứng”. 
Thứ ba là quyền cá nhân. Điều NHNN đã thể hiện được sự sòng phẳng, quyết liệt và minh bạch. NHNN đã nếu vấn đề và tạo được đồng thuận, chứ không dùng kiểu lãnh đạo ra lệnh. 
"Hành động tái"
Với những hành động đã thành công, cần phải chỉ rõ để kế thừa, ông Dương nhấn mạnh.
Đầu tiên, phải tập trung vào những hành vi có kết quả, bỏ qua những hành vi đơn thuần mang tính bao cấp. Đó là tăng kiểm tra, tăng kiểm soát, đẩy mạnh M&A,… 
Thứ hai là không tái nhiều vấn đề cùng một lúc. Cần chọn đúng điểm để "tái", có lúc tập trung vào vốn, lúc tập trung vào thanh khoản, lúc tỷ giá,. Sau khi có kết quả, lập tức pháp lý hóa ngay. Nếu không sẽ quay về trạng thái ban đầu. 
"Định vị"
Theo ông Lê Thẩm Dương, 3 năm tái cơ cấu đặt ra 4 định vị:
Định vị 1: Tính cơ cấu, chúng ta mới giải xong những vấn đề phi hệ thống, chưa giải quyết được những cái hệ thống, đó là số lượng ngân hàng là bao nhiêu, loại hình ngân hàng, mô hình, thị phần ra sao? Việt Nam đang vừa thừa, nhưng cũng vừa thiếu. 
Định vị 2: Tính chất lượng chứ không phải cơ cấu. Quy mô ngân hàng đã đủ lớn để hội nhập chưa? Ít nhất phải có hai ngân hàng để “chiến đấu” trong khu vực. Tiếp đến là chất lượng ngân hàng, đặc biệt là quản trị. 60% huyệt tử của ngân hàng liên quan đến quản trị, thứ hai là chất lượng nhân sự, thứ ba là vốn.
Định vị 3: Nợ. Chúng ta đang tập trung vào nợ xấu, trong khi cái cần dè chừng hơn là nợ chưa xấu nhưng có nguy cơ xấu. 
Định vị 4: Hoàn thiện tiếp tục các văn bản pháp lý.
"Mong muốn nhất là không phải tái cơ cấu một lần nữa"
Trong khi đó, ông Hà Huy Tuấn, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia phát biểu trong hội thảo “Định vị hệ thống ngân hàng sau tái cơ cấu” đã cho rằng cách tiếp cận của chúng ta nên phải rõ ràng, các vấn đề của ngân hàng nên gắn với các vấn đề của kinh tế.
Ông Tuấn cho biết hiện có 3 thách thức từ bên ngoài, bao gồm: 
-  Vấn đề kinh tế Mỹ: Lãi suất ở Mỹ có nâng hay không nâng đang là vấn đề lơ lửng trên đầu.
-  Nền kinh tế Trung Quốc và sự điều hành kinh tế Trung Quốc: Sẽ còn phức tạp hơn rất nhiều trong thời gian tới.
- Câu chuyện của bản thân chúng ta: Câu chuyện TPP và câu chuyện FTA.
Những năm đã thực hiện tái cơ cấu vừa rồi, chúng ta đã đạt được một số kết quả khả quan. Vậy thì vấn đề gì chúng ta cần phải tiếp tục suy nghĩ trong thời gian tới: Chúng ta nhìn nhận vấn đề tái cơ câu này nên như nào? Trong bối cảnh như hiện nay, các chính sách tiền tệ nên được điều hành như thế nào?
Ông Hà Huy Tuấn, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia.
Chúng ta hiện nay đang tranh cãi vấn đề cơ chế thị trường trong bối cảnh XHCN nên như thế nào. Sử dụng các thông lệ quốc tế điển hình là áp dụng BASELS II tại các ngân hàng, NHNN đã có chương trình vậy chúng ta sẽ triển khai như nào, đến khi nào và nên làm như nào để đạt được mục tiêu của chúng ta?
"Mục tiêu mong muốn nhất là đừng phải tái cơ cấu 1 lần nữa", ông Hà Huy Tuấn chia sẻ.
Trong thời gian tới, các khoản nợ mới cần được chú ý, rút kinh nghiệm các bài học đã qua, các khoản vay này được nâng cao chất lượng để sau một thời gian nữa chúng ta sẽ không phải lặp lại câu chuyện tái cơ cấu này.
Nếu biểu hiện của một hệ thống ngân hàng lành mạnh là biểu hiện ở 2 công cụ chính của chính sách tiền tệ: lãi suất, tỷ giá. Nếu theo được chuẩn mực chung của thế giới thì chúng ta hoàn toàn yên tâm về việc cơ cấu hệ thống đã về mức bình thường.
Xử lý nợ xấu vẫn còn vướng cơ chế pháp lý
Phát biểu tại hội thảo, TS. Nguyễn Quốc Hùng, Chủ tịch hội đồng thành viên VAMC cho biết “VAMC đã hỗ trợ và cùng các TCTD xử lý nợ xấu” 
Việc xử lý nợ xấu hiện nay có nhiều hình thức: Các tổ chức tín dụng tự xử lý nợ xấu của đơn vị mình, tự đi thu hồi nợ, nếu không được thì trích lập dự phòng rủi ro. 
Theo ông Hùng, VAMC ra đời trên tinh thần các tổ chức tín dụng không tự xử lý nợ xấu được, không tự thu hồi được, nguồn lực tại tổ chức tín dụng không đủ để vừa trích lập dự phòng rủi ro và vừa cho vay. VAMC giúp loại bỏ cục máu đông ra khỏi hệ thống ngân hàng.
TS.Nguyễn Quốc Hùng, Chủ tịch hội đồng thành viên VAMC.
Nguyên tắc mua nợ xấu của VAMC là mua nợ xấu phải có quy định, không phải khoản nào cũng mua. Đồng thời, VAMC không phải mua về để bán ngay. Mục đích chính của VAMC về việc mua nợ xấu là để hỗ trợ các tổ chức tín dụng. Công ty mua nợ về để phân loại, khoản nợ đang ở loại nào (khởi kiện, thi hành án, … ) và nó thu được hay không thu được.
Theo con số ông Hùng đưa ra, VAMC đã mua tổng cộng 225.000 tỷ VND nợ gốc của 139 tổ chức tín dụng với giá trái phiếu là 191.335 tỷ VND. Trong số đó, công ty đã phối hợp xử lý cùng các tổ chức tín dụng được 15.663 tỷ VND, chiếm 7% trong con số đã mua về.
Trong 191.000 tỷ VND trái phiếu đã mua về thì số tài sản bảo đảm là 330.000 tỷ VND, và trong đó khoảng 70% là bất động sản. Bởi thế, các khoản nợ này đều có khả năng xử lý.
Riêng năm 2015, tốc độ xử lý nợ xấu của VAMC đã vượt 9 tháng. Với kế hoạch của cả năm là 10.000 tỷ, cho đến nay con số thu về đã đạt gần 11.000 tỷ vượt hơn 1.000 tỷ VND. Đồng thời, khối lượng trái phiếu phát hành theo kế hoạch là 80.000 tỷ VND mà đến nay khối lượng trái phiếu đã phát hành đạt 82.000 tỷ VND.
Trên cơ sở đó, VAMC đã yêu cầu Ngân hàng Nhà nước cho phát hành thêm trái phiếu trong thời gian tới. Ông Hùng cũng kì vọng, đến hết năm 2015, nợ xấu của hệ thống được đưa về dưới 3%. 
Ngoài ra, ông Hùng còn cho biết nhiều tổ chức quốc tế đã đến làm việc để mua lại các khoản nợ xấu mà VAMC đã gom lại. Nhưng có tiền cũng không được phép mua vì hiện tại chưa có luật nào cho mua.
Tiền chỉ là một vấn đề, hành lang pháp lý có cho mua không. Năm 2016, VAMC xác định sẽ làm nhưng đề nghị cơ chế cho làm. Các ngành phải vào cuộc để cùng xử lý vấn đề này. 
Trong quá trình xử lý nợ xấu như hiện nay và tốc độ như thời gian qua là cả một sự cố gắng của VAMC phối hợp với các tổ chức tín dụng và sự chuyển mình của thi hành án. 
Thời gian tới VAMC sẽ phân loại nợ sau đó xác định bán tài sản ra làm sao. Có nhiều vướng mắc về việc bán tài sản bảo đảm: Quy định, sự phối kết hợp của chủ tài sản, định giá tài sản bảo đảm và quyền sở hữu đất đai của VAMC.
Ông Hùng nhấn mạnh, việc đấu giá thành công một khoản nợ hiện mất khoảng 100 tỷ VND và 4 tháng về thời gian, đồng thời điều 175 luật đất đai đang hạn chế quyền sở hữu của VAMC đang là những vấn đề vướng mắc nhất của VAMC.
Ngoài ra, chưa có đơn vị nào có giấy phép kinh doanh mua bán nợ ngoài AMC, DATC, VAMC nên rất thị trường mua bán nợ cần được tạo điều kiện hơn nữa. Việc định giá khoản nợ cần có cơ sở pháp lý vững chắc hơn, nguồn lực được đảm bảo hơn và điều kiện thu giữ tài sản đảm bảo được tạo điều kiện hơn.
“Mục tiêu trong năm 2016 của VAMC là xử lý từ 225.000 đến 250.000 tỷ VND. Tuy nhiên để đạt được mong muốn như thế thì cần các cấp lãnh đạo, ban ngành tạo điều kiện về cơ sở pháp lý và các điều kiện kèm theo”, ông Hùng cho biết.
Những sáng kiến đặc thù trong tái cơ cấu
Đánh giá về sự bài bản của quá trình tái cơ cấu ngân hàng, đối chiếu lại với 4 nước trong khu vực đã tái cơ cấu ngân hàng trong giai đoạn 1997, NHNN đã tuân theo thông lệ quốc tế, đặc biệt liên quan đến nội dung và phương pháp tái cơ cấu, chuyên gia tài chính ngân hàng Cấn Văn Lực nhận định.
Ví dụ với nội dung, có ba nội dung chính. Một là tái cơ cấu tài chính, hai là về tái cơ cấu hoạt động, ba là tái cơ cấu về thể chế.
Với phương thức tái cơ cấu, quốc tế thực hiện 6 phương thức, Việt Nam làm mạnh 4 thứ, còn 2 thứ “nhẹ tay” hơn.
Đầu tiên là có sự tham gia mạnh mẽ hơn của khối tư nhân, đặc biệt nước ngoài trong tái cơ cấu. đây là điều được làm thận trọng. Ở giai đoạn hai, nếu tư nhân và nước ngoài không tham gia vào tái cơ cấu thì Việt Nam sẽ thiếu đi nguồn vốn và động lực. 
Thứ hai là đóng cửa ngân hàng. Ở Indonesia, có tới 18 ngân hàng bị đóng cửa trong quá trình tái cơ cấu. Singapore đến 48 ngân hàng. Tại Việt Nam, tính chất thị trường còn thiếu nên không thể áp dụng rộng rãi biện pháp này. Nó lý giải cho chiến lược “du kích” mà ông Thiên đã nhắc đến. 
Ngược lại, chúng ta cũng có một số sáng kiến đáng được nhấn mạnh, ông Lực cho biết.
Đầu tiên là mua cổ phiếu ngân hàng với giá 0 đồng. 
Thứ hai, thông thường tại các nước tái cơ cấu, tín dụng không tăng trưởng, nhưng tín dụng Việt Nam vẫn tăng trưởng đều, vào khoảng 17% trong 2015. Trong bối cảnh “chữa bệnh”, NHNN vẫn đảm bảo lưu thông nền kinh tế. 
Ngoài những vấn đề vướng mắc đã nếu, còn một vấn đề liên quan đến doanh nghiệp nhà nước. Việc định giá tài sản các doanh nghiệp này vô cùng khó khăn. Bán tài sản đảm bảo của những công ty này không hề dễ. 
 Chuyên gia tài chính ngân hàng Cấn Văn Lực.
“Bản thân ngân hàng của tôi mất 3 - 4 năm vẫn không bán được tài sản đảm bảo của một doanh nghiệp nhà nước”, ông Lực nói. 
Do đó, ông cho rằng sự vào cuộc của các cơ quan chức năng chưa quyết liệt.
Vấn đề thứ hai, Việt Nam chưa có cơ chế thị trường phù hợp, như tỷ lệ chia lỗ chênh lệch của giá nợ xấu mua vào và bán ra. Ví dụ, Thái Lan quy định lãi và lỗ cùng san sẻ với tỷ lệ 50%. 
Thứ ba là vấn đề về tỷ lệ sinh lời. Trong 3 năm, hệ thống ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro rất nhiều, bao trùm 45% nợ xấu, khiến tỷ lệ sinh lợi sụt giảm và cực thấp so với khu vực. Năm nay, ROE chỉ còn khoảng 6%, so với Trung Quốc 15%, Indonesia 16%, Philippines 18%. 
Thứ tư là hệ thống quản trị doanh nghiệp. Diễn đàn kinh tế ASEAN chấm chỉ số quản trị doanh nghiệp của Việt Nam chỉ được 35 điểm, thua gần 1 nửa so với Thái Lan. 
Thứ năm là quản trị rủi ro. Nợ xấu bao giờ cũng song hành với hệ thống ngân hàng, vấn đề là chấp nhận tỷ lệ bao nhiêu. Tỷ lệ chuẩn của quốc tế là khoảng 3%. Trong khi Basel của Việt Nam đang được đánh giá là 1,5, chưa đến Basel II, trong khi thế giới đã áp dụng Basel III vào 2013. 
Thứ sáu là nguồn nhân lực. So sánh giữa ngân hàng nội địa với ngân hàng nước ngoài, thì ngân hàng của Việt Nam có quan hệ với khách hàng tốt, am hiểu thị trường, nhưng làm ăn bài bản thì không bằng. Muốn hội nhập, câu chuyện về làm ăn phải chuyên nghiệp cần phải được chú trọng, ông Lực nói.
“Tôi hy vọng chúng ta sẽ tiến tới một mô hình Ngân hàng Trung ương độc lập hơn. Đặc biệt liên quan đến phân tích, dự báo, đưa ra chính sách, công bố số liệu”, ông kết luận.
"Đừng nghĩ ngân hàng phá sản thì Nhà nước không mất gì"
Ông Nguyễn Hữu Nghĩa, Chánh thanh tra Ngân hàng Nhà nước.
Ông Nguyễn Hữu Nghĩa, Chánh thanh tra Ngân hàng Nhà nước chia sẻ tại hội thảo “Trong quá trình tái cơ cấu, chúng ta đã đạt được 4 điểm nhấn quan trọng cho giai đoạn gần 4 năm vừa qua”

Theo ông Nghĩa, hệ thống thanh khoản hệ thống ngân hàng đã tốt lên. Cuối năm 2011, nguy cơ đổ vỡ hệ thống của chúng ta rất cao. Nhưng đến nay, thanh khoản ổn định. Ngoài ra, mặt bằng lãi suất từ 17- 10% đã về mức 9-10%.

Năm 2012, ngân sách nhà nước luôn trong tình trạng khó khăn, hệ thống ngân hàng yếu kém. Từ tăng trưởng tín dụng 10% năm 2012 thì năm nay đã lên khoảng 16% góp phần vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Kết quả tái cơ cấu trong thời gian vừa qua, trật tự, kỉ cương của cả hệ thống đã tốt hơn, cạnh tranh lành mạnh hơn, không còn tình trạng chạy đua lãi suất huy động.

Ngoài ra, ông Nghĩa cũng cho biết, 3 nội dung then chốt của quá trình vừa qua là: cơ cấu lại về quản trị, cơ cấu tài chính, cơ cấu về công nghệ. Chúng ta đã gặp nhiều vấn đề vướng mắc về pháp lý nhưng chúng ta đã hết sức thành công.

Con số ước tính đến thời điểm này là trên 98% số nợ xấu xác định tại thời điểm 9/2012 đã được xử lý tương ứng với gần 458.000 tỷ VND. NHNN đã nhận diện nợ xấu ở thời điểm đó tương đối sát (465.000 tỷ VND).

“Chúng ta không đặt ra lộ trình chắc chắn cho đề án xử lý nợ xấu chắc chắn rằng 2015 đưa tỷ lệ nợ xấu về dưới 3%. Nhưng cả hệ thống ngân hàng đã phấn đấu đưa nợ xấu về dưới 3% trước 30/9 (2,93%)”, ông Nghĩa khẳng định.

Ông Nghĩa khẳng định việc NHNN mua lại các các ngân hàng với giá 0 đồng là đúng luật, dựa trên Quyết định 48/2013/QĐ-TTg ngày 01/8/2013 của Thủ tướng Chính phủ.

Một trong những sứ mạng của NHNN là bảo vệ tổ chức tín dụng và người gửi tiền. Việc mua lại các ngân hàng yếu kém là hoàn toàn dựa trên tiêu chí khách quan và kết quả định giá độc lập về tài sản của các ngân hàng yếu kém.

Ông nhấn mạnh việc NHNN mua các ngân hàng “0 đồng” dự trên giá trị thực của cổ phiếu của các ngân hàng đó. “Đây là quan hệ mua bán, không phải là quốc hữu hóa”, ông Nghĩa nói.

“Đừng nghĩ ngân hàng phá sản thì Nhà nước không mất gì, bởi Bảo hiểm Tiền gửi, tổ chức tài chính của Nhà nước, phải chi trả cho người gửi tiền”. Việc mua lại các ngân hàng yếu kém là để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và đảm bảo sự an toàn cho hệ thống, Chánh thanh tra NHNN nói. 

Nợ xấu của ngân hàng là tài sản không sinh lời của doanh nghiệp, chúng ta không thể xử lý bằng mọi giá vì như thế sẽ gây tổn hại cho doanh nghiệp và ảnh hưởng đến cả tổ chức tín dụng. “Xử lý nợ xấu thông qua VAMC là tối ưu”, ông Nghĩa khẳng định.

BIZLIVE

Bảng giáThị trường

VN-Index 690.76 ▲ 3.61 (0.52%)

 
VN-Index 690.76 3.61 0.52%
HNX-Index 83.56 0.55 0.65%
UPCOM 53.81 0.27 0.5%
DJIA 16,038.48 11.43 0.07%
Nasdaq 4,286.74 2.99 0.07%
Nikkei 225 16,122.71 -881.59 -5.47%
FTSE 100 5,632.19 -57.17 -1.02%

BizLIVE - Gặp gỡ