10 Quy tắc giao dịch theo Phân tích kỹ thuật của John Murphy

Nguyễn Thành Long

08:20 21/02/2016

John Murphy được xem là một trong những bậc thầy về phân tích kỹ thuật hiện nay của thế giới, 10 quy tắc vàng trong giao dịch dưới đây của John Murphy đã trở nên nổi tiếng trong giới đầu tư/ đầu cơ trên toàn thế giới.

10 Quy tắc giao dịch theo Phân tích kỹ thuật của John Murphy

Ảnh minh họa.

Sử dụng phân tích kỹ thuật trong giao dịch là một phương pháp khá hiệu quả đối với nhà đầu tư/ đầu cơ trên thị trường chứng khoán . Dựa vào giá và khối lượng trên đồ thị cổ phiếu để xác định xu hướng, tìm điểm mua và bán để kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn là chiến thuật khá thông minh đối với những nhà đầu tư/ đầu cơ theo trường phái này.

Những kinh nghiệm cơ bản cho nhà đầu tư trước khi đầu tư chứng khoán

1. Phân tích biểu đồ dài hạn để có bức tranh toàn cảnh về xu hướng thị trường

Hiện nay các CTCK, các trang báo điện tử về chứng khoán như Cafef cung cấp khá nhiều công cụ dùng để phân tích kỹ thuật, nhà đầu tư có thể xem xét biểu đồ giá cổ phiếu dài hạn như theo năm, theo tháng, theo tuần để có thế thấy toàn cảnh về xu hướng của thị trường chung cũng như xu hướng của các mã cổ phiếu mà mình tham gia giao dịch.

Biểu đồ toàn cảnh Vnindex từ năm 2000 đến nay.
Biểu đồ toàn cảnh Vnindex từ năm 2000 đến nay.

2. Xác định xu hướng và đi theo nó

Luôn luôn bám theo xu hướng khi giao dịch nên mua trong xu hướng tăng, bán trong xu hướng giảm, việc giao dịch ngược xu hướng thường dẫn đến mất tiền nhiều hơn và cháy tài khoản nhiều hơn. Một xu hướng tăng thường là đỉnh sau cao hơn đỉnh trước và đáy sau cao hơn đáy trước, cách xác định đường xu hướng này là nối các đáy lại với nhau. Ngược lại, một xu hướng giảm thường là các đỉnh sau thấp hơn đỉnh trước và đáy sau thấp hơn đáy trước đó, cách xác định các đường xu hướng giảm là nối các đỉnh với nhau.

3. Xác định mức hỗ trợ và mức kháng cự

Điểm mua tốt nhất là gần mức hỗ trợ, mức hỗ trợ đó thường là điểm đáy liền trước. Điểm bán tốt nhất là gần mức kháng cự, mức kháng cự đó thường là điểm đỉnh liền trước. Sau khi đỉnh kháng cự bị phá thì thông thường nó sẽ tạo hỗ trợ cho những đợt hồi sau đó. Nói cách khác, mức cao nhất cũ trở thành mức thấp nhất mới.

4. Nhận biết khả năng điều chỉnh đến bao nhiêu

Sự điều chỉnh lên hoặc xuống của thị trường thường nằm trong những phần quan trọng của xu hướng trước, có thể đo sự điều chỉnh trong xu hướng hiện tại theo những tỷ lệ phần trăm đơn giản. Mức hoàn lại 50% của xu hướng trước là phổ biến nhất. Mức hoàn lại tối thiểu thường là 1/3 của xu hướng trước. Mức hoàn lại tối đa thường là 2/3. Cũng cần theo dõi các mức hoàn lại theo tỷ lệ Fibonacci như 38% và 62%. Trong suốt quá trình hồi lại trong một xu hướng tăng giá, điểm mua ban đầu thường nằm trong khu vực hoàn lại 33%-38%.

5. Vẽ các đường xu hướng

Càng xác định rõ xu hướng để mua bán thì việc hạn chế và giảm thiểu rủi ro càng hiệu quả, việc phá vỡ các đường xu hướng thường báo hiệu sự thay đổi về xu hướng. Một xu hướng đúng cần được chạm ít nhất 3 lần. Đường xu hướng có hiệu lực càng lâu và số lần nó bị giá thử thách càng nhiều thì đường xu hướng đó càng trở nên quan trọng.

6. Theo dõi các chỉ số trung bình

Theo dõi các đường trung bình động (MA), các đường này có thể cung cấp tín hiệu mua hoặc bán khách quan, bên cạnh đó còn cho biết xem xu hướng hiện tại vẫn còn di chuyển hay không và xác nhận sự thay đổi xu hướng. Giá cắt lên trên hoặc xuống dưới đường MA 200 ngày cũng tạo ra những tín hiệu giao dịch tốt trong dài hạn. Vì các đường MA là những chỉ báo theo xu hướng nên chúng hoạt động tốt nhất trong thị trường có xu hướng rõ ràng.

7. Nghiên cứu các điểm đảo chiều

Các chỉ báo dao động giúp nhận diện tình trạng vượt mua và vượt bán của thị trường. Hai chỉ báo phổ biến nhất là RSI và Stochasics. Cả 2 chỉ báo này hoạt động trên phạm vi 0 đến 100. Đối với RSI, số ghi trên mức 70 thì ở vùng vượt mua trong khi số ghi dưới mức 30 thì ở vùng vượt bán. Các giá trị vượt mua và vượt bán của Stochastics là 80 và 20. Sự phân kỳ của chỉ báo dao động thường cảnh báo sự đảo chiều thị trường.

8. Nhận biết các tín hiệu cảnh báo

Chỉ báo đường trung bình chuyển động hội tụ - phân kỳ MACD (do Gerald Appel phát triển) kết hợp hệ thống giao cắt các MA với các yếu tố vượt mua/vượt bán của một chỉ báo dao động. Một tín hiệu mua xuất hiện khi đường chạy nhanh hơn giao cắt lên trên đường chạy chậm hơn và cả hai đường nằm dưới mức 0. Một tín hiệu bán xuất hiện khi đường chạy nhanh hơn giao cắt xuống dưới đường chạy chậm hơn từ trên đường số 0. Các tín hiệu tuần ưu tiên hơn các tín hiệu ngày. Chỉ báo MACD Histogram biểu thị sự chênh lệch giữa 2 đường MA này và cho những cảnh báo sớm hơn về sự thay đổi xu hướng. Nó được gọi là “Histogram” bởi vì các thanh dọc được sử dụng để biểu thị sự chênh lệch giữa 2 đường MA trên đồ thị.

9. Xác định có phải xu hướng hay không

Đường chỉ số xu hướng trung bình ADX giúp xác định thị trường có xu hướng hay không. Nó đo mức độ xu hướng trong thị trường. Đường ADX chạy lên cho thấy sự hiện diện của một xu hướng mạnh. Đường ADX chạy xuống cho thấy sự hiện diện của một thị trường không có xu hướng rõ ràng. Đường ADX chạy lên giống như các đường trung bình chuyển động; đường ADX chạy xuống giống như các chỉ báo dao động. Bằng cách đánh dấu hướng của đường ADX, có thể xác định cách giao dịch và bộ chỉ báo nào là phù hợp nhất đối với hoàn cảnh thị trường hiện tại.

10. Nhận biết các dấu hiệu xác nhận

Khối lượng hay tính thanh khoản thường dùng như một dấu hiệu xác nhận khi thị trường vào sóng. Trong một xu hướng tăng, khối lượng thường tăng dần và thanh khoản cải thiện để khẳng định xu hướng vẫn tiếp tục và chưa có dấu hiệu kết thúc, nếu giá tăng nhưng thanh khoản giảm dần thì có thể xu hướng tăng giá hiện tại tạm thời điều chỉnh hoặc có thể sắp chấm dứt quá trình tăng.

Theo Tri Thức Trẻ