ATM gánh gần 30 loại phí: Sáng tạo để tận thu?

Vũ Lan

14:32 09/07/2015

ATM cũng như dịch vụ viễn thông. Trong đó, thẻ phục vụ cộng đồng phải được miễn phí.

ATM gánh gần 30 loại phí: Sáng tạo để tận thu?

Ảnh minh họa.

Phí chồng chồng, lớp lớp

PGS.TSKH Nguyễn Văn Minh cho rằng, thu phí ATM cần phải được tách bạch rõ ràng hai câu chuyện: Làm chính sách và kinh doanh dịch vụ.

Thứ nhất, nếu coi ATM như một dịch vụ kinh doanh của ngân hàng, dịch vụ này phải hoạt động theo quy luật cung-cầu của thị trường. Có thu, có hưởng. Ngân hàng thu phí, chất lượng do người dùng đánh giá và lựa chọn.

Quy định thu phí thế nào, những loại phí gì… sẽ phải do Chính phủ và Ngân hàng nhà nước quy định dựa theo quy định của pháp luật.

Tuy nhiên, hiện nay ATM chưa được coi là dịch vụ theo đúng nghĩa của thị trường, không phải dịch vụ tự nguyện mà bị biến tướng nên khiến người dân bức xúc. Người dân phàn nàn không đơn giản vì phí dịch vụ cao, nhiều mà còn do bị ép phải dùng dù không thích hay không có nhu cầu.

Hình thức buộc trả lương qua thẻ ATM là ví dụ. Việc này không khác nào đang ép buộc cán bộ, nhân viên phải sử dụng một dịch vụ họ không thích, không muốn nhưng buộc phải dùng rồi lại tóm cổ để thu tiền.

Thứ hai, nếu ATM chỉ đơn giản phục vụ mục đích của xã hội. Tức là cùng với nhà nước thực hiện chủ trương chống tiền mặt hóa, tạo sự thuận lợi trong quản lý, minh bạch dòng tiền, ATM không được thu tiền.

Theo ông Minh, ở đây đang có sự nhập nhèm trong tư duy quản lý và sử dụng dịch vụ ATM. Khi Ngân hàng muốn thu phí thì coi ATM như một dịch vụ và đưa vào hoạt động theo nguyên lý của thị trường. Nhưng khi muốn phát triển, mở rộng thị trường cũng như để đối phó với người dân từ chối dịch vụ lại áp dụng các công cụ hành chính. Điều này quá bất hợp lý, không nhận được sự đồng thuận của dư luận.

Thêm nữa, theo ông Minh là khi đưa dịch vụ vào thu phí Việt Nam thường áp dụng hầu hết tiêu chuẩn quốc tế để tính phí cho Việt Nam. Loại phí bất hợp lý đã nhìn thấy lâu nay là phí xăng dầu, điện nước, phí đường bộ, nay là ATM. Để công bằng và khoa học, các nước khi tính phí phải dựa trên thu nhập trung bình so sánh với sức mua tương đương để quy đổi mức phí cho phù hợp.

Ví dụ, thu nhập của người Việt tính theo GDP đầu người thì khoảng 2.000 đô/người/năm thì mua được bao nhiêu hàng hóa ở trong nước và mua được bao nhiêu hàng hóa ở nước khác. Ngay tại mỗi vùng miền sức mua tương đương cũng khác nhau do mặt bằng giá cả và thu nhập bình quân đầu người là khác nhau.

Để cho khoa học cần phải nhìn nhận vào các nước có cùng trình độ phát triển, kinh tế như VN để so sánh. Ví dụ, như Singapore, từ khi nền kinh tế của họ có mức thu nhập bình quân đầu người ở mức 400USD/năm cách đây vài chục năm - giống mức thu nhập bình quân đầu người hiện nay tại Việt Nam - cho đến nay, khi thu nhập bình quân đầu người của họ đạt trên 30.000 USD/năm thì chính sách họ đưa ra và thực hiện như thế nào? Việt Nam hiện nay, thu nhập người lao động có nơi chỉ 3-4 triệu/người/tháng, nhưng phí lên gần 1 triệu là quá nhiều. Phí chồng phí, tầng tầng, lớp lớp.

Đẩy khó cho dân

Trong khi tình trạng phí chồng phí đang xảy ra ở đa số các ngân hàng từ Techcombank, Vietcombank, ACB, VIB...cùng nhiều cơ cấu phí chưa hợp lý thì chất lượng dịch vụ ATM chưa bao giờ nhận được sự hài lòng của đa số khách hàng, PGS.TSKH Nguyễn Văn Minh cũng muốn lắng nghe nỗi khổ của các ngân hàng thương mại cụ thể trong trường hợp này là gì?.

Lâu nay, biện minh cho quyết định thu phí các ngân hàng vẫn thường than vãn kể khổ do cơ chế chính sách, do phải bù lỗ…Như vậy phải xem xét hai vấn đề.

Như ông Minh đã phân tích nếu phát triển ATM để thực hiện chính sách, cần xác định rõ từ đầu chi phí xây dựng ATM ai sẽ bỏ tiền ra?. Ở đây đang có câu chuyện kinh phí thực hiện bị đẩy cho ngân hàng. Các ngân hàng muốn thu hồi vốn nhanh, đầu tư nhiều buộc các phải “sáng tạo” ra nhiều loại phí khác nhau để tận thu.

Cũng có ngân hàng muốn phát triển ATM theo nhu cầu thị trường, nhưng cũng có chuyện bất hợp lý trong cơ chế quản lý, điều hành dẫn tới tình trạng phí không đi liền với chất lượng dịch vụ. Nhiều ngân hàng lại đang áp dụng những loại phí hiện và phí ẩn. Ví dụ như quy định giới hạn hạn mức rút tiền, quy định bắt buộc số tiền duy trì tối thiểu trong tài khoản… khiến người dùng không thể kiểm soát được. Nếu chưa minh bạch, việc này không khác nào khiến khách hàng có tâm lý bị “gài bẫy” khi buộc phải sử dụng dịch vụ.

Đứng trên góc độ của ngân hàng, họ sẽ muốn thu phí, thu càng nhiều càng tốt để bù đắp nguồn chi. Nhưng ở góc độ người dân, họ sẽ không chấp nhập, không có nhu cầu sử dụng dịch vụ do quá tốn kém, chi phí quá cao so với thu nhập.

Tức là ngay từ tư duy xây dựng chủ trương, chính sách đã không rõ ràng, trong khi đó, cơ quan thực hiện ai cũng muốn có lợi cho mình. Người chịu thiệt hại cuối cùng là người dân.

Có sự đồng thuận ngầm để tận thu?

Vị chuyên gia cũng lo lắng, bất cập này vốn dĩ có từ lâu nhưng vì sao tới nay vẫn không có một động thái nào can thiệp nhằm giải quyết mâu thuẫn này. Việc này giống như đang có sự đồng thuận và thống nhất ngầm từ hầu hết các ngân hàng thương mại coi thu phí như là cách để giải quyết những khó khăn về thu hồi vốn nhanh; tăng nguồn thu cho ngân hàng.

Trong bối cảnh thị trường BĐS chưa có dấu hiệu phục hồi, nguồn tiền ngân hàng còn chôn chân tại đây; các khoản thu cũng gặp nhiều khó khăn do lãi suất giảm, đầu ra khó… đứng trước áp lực tăng các nguồn thu cũng thì ATM cũng là một nguồn thu để bù đắp lại nguồn thiếu hụt này.

PGS.TS KH Nguyễn Văn Minh cảnh báo, trong bối cảnh kinh tế còn nhiều khó khăn, sức dân còn yếu, lĩnh vực nào cũng tăng thuế, phí để tận thu sẽ tạo sự mất cân bằng trong phát triển. Chính phủ nếu muốn tạo được sự phát triển bền vững phải cân được thu- chi. Phải thư sức dân, tạo ra những nguồn thu bền vững chứ không phải là tận thu theo hình thức tăng thuế, phí.

Nhất là khi nó không còn là một lĩnh vực đơn lẻ mà trở thành hiện tượng chung phổ biến sẽ ảnh hưởng lớn hơn.

Vi PGS khẳng định, Việt Nam đang trong giai đoạn hội nhập, việc tiến tới không sử dụng thanh toán tiền mặt là xu hướng tất yếu. Thanh toán tiền qua ATM là cách thức quản lý, quản lý dòng tiền một cách minh bạch hơn, phòng chống tham nhũng tốt hơn. Vấn đề ở đây là cách làm thế nào đối với một đất nước có tới 60-70% người lao động có thu nhập thấp vẫn đang nhận lương qua thẻ.

Khi tầm ảnh hưởng của nó không còn nhỏ nữa, nhà nước không thể xem đây chỉ đơn giản là câu chuyện của ngân hàng với người lao động hay người sử dụng thẻ mà nó là hiện tượng, là vấn đề vĩ mô.

ATM cũng như dịch vụ viễn thông. Nếu thực hiện phục vụ chính sách phải minh bạch thu-chi. Nếu coi là nó là dịch vụ phải xây dựng cơ sở hạ tầng, phát hành nhiều loại thẻ. Trong đó, thẻ phục vụ cộng đồng phải được miễn phí.

Vị chuyên gia cho rằng, cần phân biệt rõ hai nhóm đối tượng. Một nhóm là thụ hưởng dịch vụ và người cung cấp các dịch vụ thẻ. Trong đó tách hẳn hai loại thẻ, một loại thẻ chỉ trả lương. Một loại thẻ là dịch vụ bao gồm nhiều loại thẻ khác nhau.

Vì vậy, nếu để "chữa cháy", ông Minh đề xuất nên xem xét miễn phí ATM cho người thu nhập từ 5 triệu/tháng/người trở xuống, chỉ nên thu phí đối với loại thẻ dịch vụ. Như vậy, nếu ngân hàng muốn thu phí cao sẽ phải đảm bảo dịch vụ tốt hơn.

Theo Báo Đất Việt

Bảng giáThị trường

VN-Index 686.26 ▲ 3.95 (0.58%)

 
VN-Index 686.26 3.95 0.58%
HNX-Index 83.24 0.36 0.44%
UPCOM 53.33 0.07 0.12%
DJIA 16,038.48 11.43 0.07%
Nasdaq 4,286.74 2.99 0.07%
Nikkei 225 16,122.71 -881.59 -5.47%
FTSE 100 5,632.19 -57.17 -1.02%

BizLIVE - Gặp gỡ