Vượt qua chính mình để hội nhập thành công

PGS.TS Phạm Tất Thắng

15:39 01/01/2016

Năm 1986 Việt Nam có bước chuyển mình ngoạn mục từ bỏ cơ chế quản lý cũ chuyển sang nền kinh tế thị trường. Tiếp theo, bằng nhiều cam kết song phương và đa phương, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được độ mở rất sâu và rộng.

Vượt qua chính mình để hội nhập thành công

Ảnh minh họa.

Vừa mừng, vừa lo

Có thể kể những dấu mốc quan trọng trong hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam như: Gia nhập ASEAN (1995); ký Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ (2000); gia nhập Diễn đàn kinh tế thế giới ASEM, APEC; trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO (2007); tham gia đàm phán, ký kết và thực hiện các thỏa thuận trong khuôn khổ hơn 10 FTA, đặc biệt là những hiệp định với Liên minh châu Âu - EU; Liên minh kinh tế Á - Âu; Hiệp định kinh tế đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) gần đây…

Không ai có thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà Việt Nam đã đạt được trong suốt 30 năm qua: Từ một nước thiếu đói đã trở thành một cường quốc XK gạo; thoát khỏi tình trạng “ngàn cân treo sợi tóc” của lạm phát phi mã để vươn lên đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế đều đặn và ở mức độ cao, thu nhập bình quân GDP đầu người từ mức rất thấp đã vươn lên ở mức trung bình thấp (đến nay đã đạt trên 2.000 USD/người/năm). Cho đến nay Việt Nam đã có nhiều mặt hàng XK chủ lực và đạt tốc độ tăng trưởng rất đáng khích lệ và theo nhiều dự báo chỉ trong một thời gian không xa nữa Việt Nam sẽ nằm trong số 10 quốc gia có mức XK hàng hóa đứng đầu thế giới, thu hút một lượng khá lớn về FDI, ODA từ khắp thế giới qua đó cải thiện đáng kể cơ cấu kinh tế đất nước…

Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác ta lại thấy một thực trạng đáng lo hơn đáng mừng. Từ rất sớm ta đã đặt ra mục tiêu xây dựng nền kinh tế Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Thế nhưng cho đến nay đáng tiếc là mục tiêu tốt đẹp này không những không đạt được mà ngày càng tụt hậu so với mức trung bình của thế giới và khu vực. Để có 500 USD XK Việt Nam cần có 1,2 tấn gạo ngon hoặc 500 kg cà phê hạt hoặc hơn 600 kg thủy, hải sản. Trong khi đó cũng để có số tiền tương tự Trung Quốc chỉ cần XK 1 xe máy, Nhật Bản XK 1 động cơ xe máy và Mỹ lại chỉ cần xuất khẩu 1 con chíp điện tử đặt gọn trên đầu ngón tay.

Điều đó chứng tỏ phát triển kinh tế của ta thiên về lượng, thiếu về chất; XK chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên (tài nguyên đất đai, rừng núi, khoáng sản, lao động giản đơn giá rẻ…) chứ không phải dựa vào trí tuệ, chất xám. Điều này đi ngược với xu thế của thế giới. Với mô hình phát triển kinh tế lạc hậu đó tất nhiên ta rơi vào tình trạng sức cạnh tranh ngày càng kém so với thế giới. Quy mô GDP tính theo giá cố định 2005 của Việt Nam tương đương với 4,1% của Trung Quốc, tức khoảng 1/25 thì chỉ tiêu này năm 2013 chỉ còn 1,9%.

Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay thì đến năm 2035 mức độ thịnh vượng trung bình của Việt Nam sẽ chỉ gần bằng Đài Loan (Trung Quốc), Hàn Quốc, bằng 1/2 Nhật Bản và 1/3 Singapore vào năm 2011. Cũng như thế, giả sử mức thịnh vượng kinh tế của các quốc gia chững lại, đứng nguyên ở mức 2011 thì Việt Nam vẫn cần 10 năm để đuổi kịp Trung Quốc, 12 năm bằng Đài Loan và 17 năm bằng Malaysia.

Như vậy tụt hậu so với thế giới và khu vực đã là hiện hữu chứ không còn là “nguy cơ” nữa!

Về nhận thức, chúng ta đều thấy rõ được là hội nhập kinh tế quốc tế sẽ đem lại cơ hội thịnh vượng nhưng đồng thời cũng chứa đựng nguy cơ đẩy ta vào tình trạng khốn khó. Sập “bẫy thu nhập trung bình thấp” là một nguy cơ hiện hữu. Tính đến thời điểm 2013 thu nhập bình quân theo đầu người của Việt Nam vẫn đứng trong số 1/3 các nước cuối bảng (xếp thứ 123/182 các nước xếp hạng). “Bẫy ô nhiễm môi trường” trong hội nhập quốc tế đã khiến nhiều nước phải trả giá, nay mức ô nhiễm môi trường của Việt Nam cũng đang ở mức báo động cao và theo xếp hạng của thế giới mức ô nhiễm môi trường của Việt Nam xếp thứ 102/124 quốc gia xếp hạng. Nhiều cánh rừng đang ngày đêm bị tàn phá, nhiều dòng sông bị bức tử, nước ngầm nhiễm chất độc hại, khoáng sản có nguy cơ cạn kiệt… là hiện tượng không còn cá biệt mà ở hầu hết các địa phương. Đặc biệt, nếu chúng ta không thay đổi thì rất có thể biến nước ta trở thành bãi rác công nghệ của các nước. Hiện tượng nhập công nghệ lạc hậu xi măng lò đứng, công nghệ mía đường, khai khoáng, luyện kim… của Trung Quốc đang là lời cảnh báo nguy cấp.

Vượt yếu kém để hội nhập

Thấy rõ tầm quan trọng của sự ổn định kinh tế vĩ mô, thủ tục hành chính thông thoáng để giảm thiểu chi phí cho DN, Đảng và Nhà nước đã liên tục có những chính sách và chủ trương để đạt được điều này. Mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam có môi trường kinh doanh đạt ở mức trung bình của ASEAN 6 và sau đó phấn đấu nằm trong mức ASEAN 4. Đây là một mục tiêu rất tốt đẹp.

Tuy nhiên những vấn đề yếu kém của hệ thống ngân hàng, nợ xấu, nợ công vẫn còn là nỗi bất an đối với hoạt động kinh doanh của DN. Chi phí vốn của Việt Nam vẫn gấp 2 đến 3 lần so với mức trung bình của thế giới, chi phí logistics của Việt Nam vẫn cao hơn 2 lần so với phí này ở Singapore. Các khoản chi phí không có trong danh mục và không biết hạch toán vào đâu luôn là gánh nặng cho mọi DN Việt Nam. Về mức độ tham nhũng của bộ máy quản lý nhà nước ở nước ta vẫn bị thế giới xếp thứ 116/177 quốc gia được xếp hạng.

Gần đây, với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ thời gian nộp thuế, nộp bảo hiểm, thời gian làm thủ tục thông quan đã có sự tiến bộ rõ nét. Đặc biệt, có những quy định về sự phối hợp liên ngành trong quản lý thị trường hàng hóa, bảo vệ thương hiệu, chống gian lận thương mại, quy định về quản lý chuyên ngành,… vẫn đang là trở ngại khó vượt qua đối với DN.

Như vậy, chứng tỏ môi trường kinh doanh của Việt Nam vẫn còn xa mới đạt được mức trung bình của ASEAN 6 và chắc chắn còn xa hơn nữa so với mức trung bình của thế giới.

Sự kiện Việt Nam là nước đầu tiên trong khu vực ký được FTA với Liên minh châu Âu cũng như FTA với Liên minh kinh tế Á - Âu đang mở ra khả năng để ta đưa hàng hóa vào cả Tây Âu lẫn Đông Âu. Đặc biệt, với tư cách là một trong 12 quốc gia tham gia TPP Việt Nam đang có “cơ hội vàng” để phát triển kinh tế, cải thiện năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên để có thể hưởng lợi từ các FTA này đòi hỏi hàng hóa của chúng ta phải có xuất xứ Việt Nam hoặc thỏa mãn điều kiện về xuất xứ trong từng hiệp định. Trên thực tế nhiều mặt hàng XK chủ lực của chúng ta đang bị phụ thuộc rất lớn vào thị trường Trung Quốc. Số liệu sau đây phản ánh rõ điều này: Nếu tổng nhập siêu của Việt Nam năm 2006 là 4,8 tỷ USD thì riêng nhập siêu từ thị trường Trung Quốc là 4,1 tỷ USD, chiếm 85,4%. Tương tự tổng nhập siêu 2008 là 17,7 tỷ USD thì nhập siêu từ thị trường Trung Quốc là 11,1 tỷ USD, chiếm 63,4%. Năm 2010 tổng nhập siêu của nền kinh tế là 12,7 tỷ USD thì nhập siêu từ thị trường Trung Quốc là 12,4 tỷ USD, chiếm 97,6%. Trong năm 2013 - 2014 toàn ngành kinh tế xuất siêu nhưng vẫn nhập siêu từ thị trường Trung Quốc lần lượt là 23,7 tỷ USD và 29 tỷ USD.

Như vậy, nếu không cải thiện được cán cân thương mại này thì chúng ta không thể hội nhập tốt và các lợi ích do các FTA đem lại chỉ có lợi cho các DN của Trung Quốc.

Theo Báo Hải Quan

Từ khóa: TPP, FTA, thương mại

BizLIVE - Gặp gỡ