“Với mắc ca, đừng tính con số mà hãy bàn cách làm!”

Thảo mai

09:48 14/04/2015

BizLIVE - Tại cuộc tọa đàm trực tuyến trên BizLIVE vào sáng nay 14/4, TS. Nguyễn Trí Ngọc, Tổng thư ký Hiệp hội Nông nghiệp Việt Nam, cho rằng đừng nên bàn nhiều đến con số cụ thể liên quan đến diện tích, sản lượng mắc ca vội, mà tốt hơn hãy bàn về việc làm cách nào cho có hiệu quả.

“Với mắc ca, đừng tính con số mà hãy bàn cách làm!”

TS. Nguyễn Trí Ngọc, Tổng Thư ký Tổng Hội nông nghiệp Việt Nam, nguyên Cục trưởng Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT)

Tổng diện tích 5.000ha

Gợi lại thuở những ngày đầu mắc ca được đưa về Việt Nam, GS. Hoàng Hòe, nguyên Viện trưởng Viện Điều tra quy hoạch rừng, cho biết bản thân ông đã có cơ hội đi thăm rất nhiều trang trại trồng mắc ca tại Úc.

“Có thể nói mô hình của họ rất hay, khí hậu khu vực này tương đương với Tây Nguyên ở Việt Nam”, ông Hòe nhận xét.

Thật vậy, trước đây, cố Phó thủ tướng Nguyễn Công Tạn đã tổ chức những đoàn khảo sát sang Úc, sau đó có ý kiến chỉ đạo cần làm nhanh để phát triển cây mắc ca.

Tuy nhiên, vì ở Việt Nam không phải chỗ nào cũng phát triển được cây Mắc ca, chỉ có Tây Nguyên và Tây Bắc là phù hợp. Việt Nam đã mời các chuyên gia Úc sang hỗ trợ nhiều công đoạn như tìm cây, giống, hạt... Qua các thời kỳ, lãnh đạo Bộ Nông nghiệp đều thể hiện sự ủng hộ đối với giống cây mới mẻ này.

Ban đầu, trồng ở Ba Vì chỉ là những cây thường sinh khoảng những năm 1992, 1993. Sau này Việt Nam mới trồng cây mắc ca nhập.

Hiện Việt Nam đã kết hợp với các chuyên gia Úc hỗ trợ cho nông dân kinh nghiệm trồng tại các vườn ươm và cả trên thực tế, ông Hòe cho hay.

Ban đầu, trồng ở Ba Vì chỉ là những cây thường sinh khoảng những năm 1992, 1993. Sau này Việt Nam mới trồng cây mắc ca nhập. 

“Tuy chưa có tổng kết, nhưng theo tôi cho đến giờ đã có khoảng 1 triệu cây trên cả nước. Trong đó có khoảng 1 nửa là cây thường sinh, còn lại là cây ghép”, nguyên Viện trưởng ước tính.

Tổng diện tích vào khoảng 5.000ha chứ không phải là 2.000ha như một số báo chí đưa tin. Trong đó, cụ thể các cây ghép được tập hợp từ các nước như Úc, Trung Quốc, Thái Lan và Hawai, ông bổ sung.

Cần quan tâm gì?

Cũng liên quan đến các thông tin trái chiều trên báo chí, TS. Nguyễn Trí Ngọc, Tổng thư ký Hiệp hội Nông nghiệp Việt Nam, cho rằng đó là điều bình thường. Tuy nhiên ông cũng lưu ý không nên bàn nhiều đến con số, mà tốt hơn hãy bàn về việc làm cách nào cho có hiệu quả.

Trước hết, ông Ngọc khẳng định mắc ca là một cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang muốn nâng cao giá trị gia tăng của nông nghiệp.

“Cây cao su, cà phê trước khi trở thành trụ cột trong nông nghiệp Việt Nam hơn 100 năm nay, cũng đã trải qua nhiều thăng trầm”, ông Ngọc so sánh.

Ví dụ với trường hợp của cây cà phê, ban đầu Việt Nam chỉ quy hoạch trồng 500 nghìn ha. Nhưng khi kiểm tra sau đó thì con số đã vọt lên tới 620 nghìn ha, và trên thực tế có lẽ con số còn cao hơn nhiều. Tương tự với trường hợp của cao su.

“Do đó, chúng ta phải suy nghĩ giữa mong muốn chủ quan của con người thể hiện bằng quy hoạch và thực tiễn. Quan trọng là vai trò quản lý của nhà nước, điều hành ra sao cho có hiệu quả”, ông Ngọc khẳng định.

Thứ hai, tiến sĩ cho rằng cần xác định vùng trồng mắc ca cho phù hợp. Hiện nay Việt Nam chỉ ra vùng trồng được chứ chưa có xác định cụ thể. Do đó, việc quy hoạch vùng trồng và con giống là nhiệm vụ cần được ưu tiên.

Ví dụ, cần tính toán để làm thế nào giảm tỷ lệ cây thường sinh, tăng tỷ lệ cây ghép, quản lý con giống, chuyển giao khoa học kỹ thuật…

Thứ ba là vấn đề thị trường. Cây mắc ca sẽ không có hiệu quả như mong đợi nếu không nắm bắt thị trường. Đây là kịch bản không mong muốn đang xảy ra với hành tây và dưa hấu, ông chỉ ra.

Doanh nghiệp phải vào cuộc ngay từ đầu đối với những chương trình như thế này. Chỉ có doanh nghiệp mới kết nối được các quy trình từ sản xuất đến thu mua, và phải có cam kết từ doanh nghiệp.

Khi doanh nghiệp đã xác định đầu tư thì họ sẽ có trách nhiệm với số tiền đầu tư của mình. Đặc biệt nông nghiệp là lĩnh vực đầu tư nhiều rủi ro, theo đánh giá của nhiều người. Chỉ khi doanh nghiệp nào thực sự có tiềm lực mới dám đầu tư vào nông nghiệp.

Cây mắc ca sẽ không có hiệu quả như mong đợi nếu không nắm bắt thị trường. 

Có 2 vấn đề liên quan đến phát triển cây mắc ca mà các doanh nghiệp phải đối mặt, đó là thị trường và khí hậu. Chúng vừa là rào cản cho các nhà đầu tư, nhưng cũng lại chính là thước đo năng lực của các doanh nghiệp, ông Ngọc kết luận.

Trồng ở đâu, như thế nào?

Trả lời cho câu hỏi về quy hoạch của TS. Nguyễn Trí Ngọc, TS. Trần Vinh, Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp Tây Nguyên, cho biết Viện đã nghiên cứu mắc ca được 15 năm, từ 2002.

Kết quả ban đầu cho thấy mắc ca có thể phát triển ở Tây Nguyên nhưng không phải chỗ nào cũng trồng được. Các giống biến đổi trong cùng một môi trường. Nhiều giống tốt ở thế giới nhưng khác biệt về điều kiện sinh thái ở nước ta thì phải chấp nhận. Hiện tại trong 15 giống cây Viện đang nghiên cứu thì có 4-5 giống phù hợp với điều kiện của Tây Nguyên.

“Cây cà phê hàng trăm năm người ta vẫn nghiên cứu nên cây mắc ca thời gian qua không phải là dài. Kinh phí được cấp cho nghiên cứu trước đây chỉ là đề tài cấp cơ sở, chỉ thực hiện nghiên cứu được ở Buôn Ma thuột, ĐắkNông, Gia Lai, sau này nếu có kinh phí thì có thể khảo nghiệm trên diện rộng hơn và với nhiều loại giống hơn”, ông Vinh chia sẻ.

Ngoài ra, Viện còn nghiên cứu nhiều phương thức để canh tác, ví dụ như trồng xen. Qua nghiên cứu thì phương pháp trồng xen rất hiệu quả, không ảnh hưởng đến cây khác. Cây cà phê ưa bóng, khi trồng xen mắc ca thì tạo bóng cho cây cà phê, cây mắc ca lại được hưởng từ nước tưới từ cây phê khiên mắc ca có tỷ lệ hoa và đậu quả nhiều hơn.

Người dân Tây Nguyên quen với kỹ thuật trồng cây cà phê và không chặt bỏ cây cà phê, chỉ đem thêm cây vào để tăng thêm năng suất.

Hạt mắc ca thành phẩm. 

Ngoài ra Viện còn nghiên cứu vấn đề chọn giống cây từ hạt. Khi trồng bằng hạt, quần thể mắc ca phân ly, biến động rất lớn, vì vậy Viện khuyến cáo bà con nông dân không nên trồng từ hạt mà chỉ để nghiên cứu.

Viện còn nghiên cứu về nhân giống cho cây mắc ca, với tỷ lệ sống cao bằng cách ghép, tỷ lệ sống trên 90% để giảm giá thành, bán cho bà con nông dân với giá thấp hơn.

“Chúng tôi nghiên cứu thấy đây là loại cây dễ trồng bởi trồng có tỷ lệ sống cao, chịu được điều kiện ở Tây Nguyên, ra hoa kết quả được trong mùa khô mặc dù không tưới nước bón phân”, ông Vinh cho biết.

Nhưng cây mắc ca cũng khó tính bởi cây ưa khí hậu mát lạnh. Ở Tây Nguyên không phải chỗ nào cũng mát lạnh, nhiều vùng chỉ trồng được cây điều, nếu trồng mắc ca thì quả sẽ rụng nhiều, nhiệt độ càng cao rụng quả càng nhiều. Những vùng này thì không nên trồng. Những vùng đất chật hẹp cũng không nên trồng, ông lưu ý.

THẢO MAI