TS. Võ Trí Thành: “Kinh tế Việt Nam khó khăn, chông gai vẫn còn đó”

Nguyễn Thảo

14:19 14/12/2015

BizLIVE - Nếu nhìn ngắn hạn có thể thấy bức tranh kinh tế vĩ mô có sự đan xen mặc dù có những khía cạnh tích cực nhưng khó khăn chông gai vẫn còn đó, TS. Võ Trí Thành, nguyên Phó viện trưởng Viện Quản lý kinh tế trung ương (CIEM) cho biết.

TS. Võ Trí Thành: “Kinh tế Việt Nam khó khăn, chông gai vẫn còn đó”

TS. Võ Trí Thành.

Kinh tế vĩ mô chưa vững chắc 

Trao đổi với BizLIVE về tình hình kinh tế vĩ mô năm 2015, TS. Võ Trí Thành cho rằng đây là thời điểm rất đáng nhìn lại và suy nghĩ đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh quá trình hội nhập khi tham gia hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do (FTA) chất lượng cao.

Ông Thành cho rằng, năm 2011-2015 là thời điểm có tính bước ngoặt trong chính sách vì Việt Nam đã nhìn ra những vấn đề khá nghiêm trọng trong phát triển mà Việt Nam phải đối mặt. Đó là chất lượng tăng trưởng thấp và có xu hướng suy giảm thể hiện thông qua năng suất lao động, năng lực cạnh tranh lên xuống...

Thêm nữa, kinh tế Việt Nam còn bất ổn, không chỉ lạm phát cao mà cân đối vĩ mô phá vỡ và méo mó thông qua các chỉ số như tiết kiệm đầu tư, thâm hụt cán cân thương mại, thanh toán quốc tế.

Nhưng từ chỗ quá chú trọng tăng trưởng bỏ qua ổn định kinh tế vĩ mô, Việt Nam đã chuyển sang tập trung ổn định kinh tế vĩ mô và đẩy mạnh tái cấu trúc ở 3 lĩnh vực và tiếp tục hội nhập, nỗ lực "hạ cánh" nhẹ nhàng, tăng trưởng không giảm quá và theo thời gian dần hồi phục. Các chính sách cũng được định hướng gắn với ổn định làm chất lượng tăng trưởng tốt hơn, phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn.

"Nhìn lại suốt 5 năm qua đặc biệt năm 2015 kinh tế vĩ mô đã có sự ổn định thông qua chỉ số lạm phát, một số cân bằng đã bớt "vênh" như tiết kiệm đầu tư, cán cân thương mại, cán cân thanh toán quốc tế đã cân bằng, thị trường ngoại hối khá ổn định... nhưng nếu nói kinh tế vĩ mô đã ổn định vững chắc hay chưa, tôi khẳng định là chưa", ông Thành nhấn mạnh.

Lấy dẫn chứng cho lập luận kể trên, ông Thành cho biết, khi có biến động lớn hoặc các cú sốc, thị trường ngoại hối, tâm lý của thị trường vẫn biến động khá mạnh. Bên cạnh đó, một số chỉ số đáng quan ngại như thâm hụt ngân sách, nợ công, nợ xấu và sự "mong manh" của một vài ngân hàng thương mại... vẫn còn đó.

Cũng theo vị chuyên gia này, nếu nhìn vào tổng thể nền kinh tế, sự phục hồi là có khi tăng trưởng kinh tế năm 2014 là 5% đã tăng lên 6,7% trong năm 2015. Sự phục hồi gắn với một số khu bực của nền kinh tế như công nghiệp chế biến, xuất khẩu nhưng sự phục hồi chủ yếu do khu vực FDI dẫn dắt trong khi các doanh nghiệp tư nhân đặc biệt các doanh nghiệp nhỏ và vừa rất khó khăn đang phải "vật lộn với cơm ăn áo mặc hàng ngày".

Ông Thành nhấn mạnh, "điểm sáng nhất" nhưng vẫn là câu hỏi trước mắt là việc Việt Nam tham gia các FTA. "Việt Nam có không ít kinh nghiệm hội nhập, tham gia sâu rộng hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới thông qua đàm phán, ký kết hiệp định với các nước nhưng vẫn là dấu hỏi, Việt Nam có tận dụng tốt cơ hội này không cho các hoạt độn kinh tế đặc biệt xuất khẩu, đầu tư, cơ hội cải tổ thể chế kinh tế trong nước", ông Thành trăn trở.

Việt Nam mới đi nửa chặng đường

Nhận định của TS. Võ Trí Thành cho thấy, đến năm 2015 Việt Nam mới đi được nửa đường của những mục tiêu đã đề ra, trong ngắn hạn có thể thấy bức tranh kinh tế có sự đan xen mặc dù có khía cạnh tích cực nhưng khía cạnh khó khăn, chông gai vẫn còn đó.

"Tái cấu trúc cần nguồn lực không nhỏ thậm chí cần hi sinh ít nhiều phục hồi tăng trưởng kinh tế và điều này làm chúng ta cấn cá giữ ngắn hạn tăng trưởng phục hồi. Trong khi, dài hạn chưa tốt về khả năng giải trình và thiếu giải trình, thiếu nguồn lực, chưa nói các nhóm lợi ích khác nhau có nhìn nhận và "lobby" khác nhau nên ý chí quyết tâm chưa đủ mạnh mẽ", ông Thành phân tích lý do.

Lý do thứ hai, theo ông Thành, có thể nằm ở vấn đề kỹ thuật như việc tìm đối tác chiến lược cho doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá, vấn đề liên quan đến đất đai, chính sách thuế phí....

Cụ thể hơn, nhìn vào doanh nghiệp nhà nước những mục tiêu đặt ra là phải thu hút được nguồn lực, vốn, kỹ năng công nghệ nhưng lại chưa đạt được. Bên cạnh đó, nhiều trường hợp cổ phần hoá, rút vốn khỏi lĩnh vực kinh doanh chính chưa thực chất.

Nhìn hệ thống ngân hàng, mặc dù đã làm được việc là tránh đổ vỡ hệ thống khi đã xử lý được các vấn đề thanh khoản, các mầm bệnh có nguy cơ gây ra sự đổ vỡ là các ngân hàng yếu kém.

"Cách làm của Việt Nam là xử lý gắn với việc ổn định dần kinh tế vĩ mô nhưng bài toán với hệ thống ngân hàng không dễ giải và còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Câu chuyện xử lý nợ xấu còn đó và liên quan đến sự phục hồi lành mạnh của hệ thống ngân hàng", ông Thành nói.

Vị chuyên gia này cho rằng, giai đoạn tiếp ngân hàng cần nâng cao sự lành mạnh, năng lực cạnh tranh của các ngân hàng, giám sát hệ thống ngân hàng và rủi ro hệ thống.

* Phần tiếp theo: Cơ hội nào cho 2016?

NGUYỄN THẢO

BizLIVE - Gặp gỡ