Nhật nợ nhiều vẫn an toàn: Việt Nam thấy gì?

Nợ công cao nhưng vẫn nằm trong tầm kiểm soát là nhờ Chính phủ Nhật đã xây dựng một chính sách dưới sự đồng lòng của người dân.

Nhật nợ nhiều vẫn an toàn: Việt Nam thấy gì?

Ảnh minh họa.

Nặng nợ nhất

Theo công bố của Viện Nghiên cứu toàn cầu McKinsey, Nhật bản là nước đứng đầu trong danh sách quốc gia có tổng nợ nhiều nhất thế giới. Khoản nợ này là kết quả từ việc Nhật Bản đã chi một số lượng tiền khổng lồ để kích thích kinh tế trong suốt “thập kỷ mất mát” những năm 1990, cũng như hàng loạt gói tài chính đã được bơm vào nền kinh tế này để giải quyết cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

Nhat no nhieu van an toan: Viet Nam thay gi? 
Ảnh minh họa

Nhờ có lượng tiền khổng lồ này, Nhật bản đã đầu tư phát triển kinh tế xã hội Nhật rất hiệu quả. Hệ số đầu tư của Nhật hiện đang là ICOR=3, chứng tỏ Nhật đầu tư không hề lãng phí, ít tham nhũng. Nhật chú trọng đầu tư vào phát triển các ngành công nghệ cao, vào an sinh xã hội đưa đất nước Nhật tan hoang sau đại chiến thế giới thứ 2 lên nước có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Song cũng phải thấy mặt trái của nó. Tỷ lệ nợ công trên GDP của Nhật Bản đã lên tới hơn 200% GDP vượt xa so với các nước khác. Nợ công của Nhật Bản hiện nay lớn hơn cả quy mô kinh tế của Anh, Đức, Pháp cộng lại. Nhật Bản hiện là nước nặng nợ nhất trong khu vực các quốc gia công nghiệp.

Tình hình nợ công ở mức cao cùng với nạn giảm phát và nhu cầu tiêu thụ nội địa yếu ớt đang cản trở đà phục hồi của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này. Để giảm nợ công chính phủ Nhật bản quyết định tăng thuế tiêu thụ lên gấp đôi so với trước đây. Việc nâng thuế sẽ giúp nước này huy động được thêm 81.420 tỷ USD/năm. Tuy nhiên, nó được đưa ra vào thời điểm quá nhạy cảm khi thị trường cần kích cầu.

Vì thế, Chính phủ cũng đồng thời tung gói kích thích mới. Không chỉ có tăng thuế, Chính phủ Nhật Bản đã đặt mục tiêu cắt giảm chi tiêu. Bên cạnh việc thắt chặt chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ tiếp tục mở rộng mạnh mẽ.

Chính phủ cũng đã có những kế hoạch cụ thể để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, tạo việc làm, hỗ trợ cho những người có thu nhập thấp. Điều mà chính sách mong muốn là sự đồng lòng của người dân.

Những nhân tố tạo an toàn cho nợ công Nhật

Khi phân tích nợ công của Nhật Bản đã cho thấy có sự khác biệt khá lớn giữa nợ công của nước này với nợ công của nhiều nước, thể hiện ở chỗ, 95% trái phiếu chính phủ của Nhật Bản do người dân nước này nắm giữ, trong khi nợ chính phủ của nhiều nước do nước ngoài nắm giữ.

Bên cạnh đó, Nhật còn tự chủ về tỷ giá hối đoái, dự trữ ngoại tệ của Nhật cũng ở mức rất cao. Do vậy, nền kinh tế Nhật Bản, mặc dù nợ công cao nhưng vẫn an toàn và nguy cơ vỡ nợ của nước này thấp hơn nhiều so với các nước khu vực đồng Euro.

So với nền kinh tế hàng đầu thế giới là Mỹ với quy mô nợ công thấp hơn Nhật Bản, nhưng lại đang phải loay hoay xử lý nguy cơ vỡ nợ trong khi nợ công của Nhật Bản được đánh giá là cao nhất trong số các nước phát triển, thì nợ công của Nhật vẫn được đánh già là an toàn. Những nhân tố đóng góp vào mức an toàn nợ công Nhật Bản, đó là:

Trái phiếu chính phủ ổn định và ít phụ thuộc vào giới đầu tư trái phiếu quốc tế. 95% trái phiếu chính phủ của Nhật Bản do người dân Nhật Bản nắm giữ, lợi tức trái phiếu Nhật Bản chỉ chạm mức cao nhất là 1,4%, trong khi đó nhiều nước đã tiếp cận ngưỡng cao gấp hơn 5 lần.

Trái phiếu chính phủ Nhật Bản hiện ổn định nhờ 3 yếu tố cơ bản: (1) Cán cân thanh toán quốc tế mạnh và dự trữ ngoại hối lớn; (2) Tỷ lệ tiết kiệm cá nhân lớn hơn nợ công; (3) Đa phần trái phiếu chính phủ Nhật Bản được các nhà đầu tư trong nước nắm giữ. Hơn nữa, toàn bộ trái phiếu chính phủ Nhật Bản được định giá bằng đồng yên. Nhật Bản không có nợ bằng ngoại tệ.

Hơn nữa, Nhật Bản cũng là “chủ nợ” của nhiều nước. Theo số liệu cuối năm 2008 của Quỹ Tiền tệ quốc tế, tổng tài sản ở nước ngoài của Nhật Bản cao hơn nhiều so với mức nợ nước ngoài. Nếu Nhật Bản khó khăn trong việc huy động tài chính trong nước thì họ có thể sử dụng tài sản ở nước ngoài làm nguồn tài chính bổ sung. Thực tế thì Nhật Bản cũng thặng dư tài khoản vãng lai trong nhiều năm, qua đó, giúp dự trữ ngoại tệ tăng lên ở mức rất cao, lãi suất thấp nên chi phí nợ thấp hơn nhiều so với các nước khác.

Rủi ro của Việt Nam
Thực chất nợ công an toàn hay rủi ro phụ thuộc vào các yếu tố đó là: nợ chính phủ là vay nợ trong nước hay vay nợ nước ngoài; tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, hay tình trạng "sức khỏe" nói chung của nền kinh tế; lượng dự trữ quốc gia.
Nền kinh tế tăng trưởng ổn định, mức sống người dân khá cao, lợi suất trái phiếu chính phủ thấp cho thấy rủi ro vỡ nợ công thấp.
Đó là lý do giải thích Nhật nợ nhiều vẫn an toàn, trái lại trường hợp của nhiều nước trong đó có Việt nam nợ ít vẫn rủi ro, nguy hiểm.
Trong 30 năm qua Việt Nam là nước có nền kinh tế tăng trưởng đa phần nhờ vào tăng đầu tư, chỉ số ICOR cao (6-7), trong khi Nhật bản, Hàn Quốc chỉ là 3, trong đó đầu tư công duy trì ở mức cao.
Đầu tư công cao nhưng hiệu quả thấp là nguyên nhân chính khiến thâm hụt ngân sách, tăng nợ công, nhất là nợ nước ngoài. Quy mô đầu tư ngày càng lớn đã kéo nợ công ngày một “phình ra” trong những năm gần đây và đặt nền kinh tế đứng trước “vòng xoáy” nợ nần.
Tính đến cuối năm 2010, tỷ lệ nợ công Việt Nam so với GDP đã là 57,3%, khoảng 58,7% GDP năm 2011, đến cuối năm 2014 là 60,3% GDP và khoảng 64% GDP vào cuối năm 2015 vượt mức 50% GDP. Theo tính toán quốc tế thì nợ công của Việt Nam đã lên đến 106% GDP. Theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, tỷ lệ hợp lý với trường hợp các nước đang phát triển nên ở mức dưới 50% GDP.
Nợ nước ngoài của nước ta chiếm khá lớn trong nợ công. Theo dữ liệu từ Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính), trong giai đoạn từ 2006-2010, nợ nước ngoài so với GDP của Việt Nam đã tăng từ 31,4% lên 42,2%. Nợ nước ngoài quốc gia đến cuối năm 2014 khoảng 39,9% GDP. Thu hút ODA làm cho nợ nước ngoài của VN ngày càng gia tăng.
Nước ta đã tăng vay mượn nước ngoài, không chỉ qua nguồn ODA mà còn cả qua các kênh bán trái phiếu chính phủ trên thị trường tài chính quốc tế và bảo lãnh cho doanh nghiệp nhà nước vay mượn thương mại với lãi suất cao. Theo ''ngưỡng'' khuyến cáo của các tổ chức tài chính quốc tế thì nếu chỉ số Nợ nước ngoài/GDP trong khoảng 30-50% thì quốc gia đó đang gặp khó khăn. 
Tỷ lệ nợ công/ GDP cao, chỉ số hiệu quả vốn đầu tư ICOR (hệ số sinh lời từ đồng vốn đầu tư) của VN vào khoảng 6-7. Đầu tư công kém hiệu quả là nguyên nhân gây bội chi ngân sách. Do thường xuyên trong tình trạng thâm hụt ngân sách nên nợ công tăng rất nhanh trong những năm vừa qua. Trong giai đoạn 2006-2010, thu ngân sách lên tới 28,2% GDP, chi ngân sách lên đến 33-33,8% GDP, bội chi ngân sách tăng 5,6% GDP, năm 2013 bội chi khoảng 5,3% GDP. Ở các nước bội chi ngân sách không được vượt quá 3%, trên 5% là báo động đỏ để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Bội chi ngân sách nhà nước được bù đắp bằng nguồn vay ngoài nước (ODA) và trong nước
VN luôn nhập siêu, thâm hụt thương mại tăng nhanh cả về số lượng, về tỷ trọng so với xuất khẩu và so với GDP. Tình trạng nhập siêu từ đầu thập niên 1990 tới nay và nhập siêu đã tăng lên rất nhanh sau khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2006. Nhập siêu kéo dài trong nhiều năm đã làm sụt giảm nguồn dự trữ ngoại hối, tăng công nợ quốc gia và gây sức ép mất giá lên đồng nội tệ. Các rủi ro lớn từ nợ công của Việt Nam hiện nay là: chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả; nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức cao.
Để đối phó với tình trạng giảm phát chính sách của Nhật và một số nước là giảm thuế để kích thích sản xuất tiêu dùng trong nước. Trong khi Việt Nam đang làm ngược lại.
Từ năm 2015, hàng loạt mặt hàng nhập khẩu vào Việt Nam sẽ giảm thuế theo cam kết của các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã ký kết. Việc tham gia hội nhập sâu rộng các hiệp định thương mại tự do đặt ra vấn đề là các dòng thuế cũng phải cắt giảm và ảnh hưởng tới thu ngân sách.
Trước mối “đe doạ” giảm nguồn thu ngân sách khi Việt Nam giảm thuế theo cam kết khi tham gia các Hiệp định thương mại, chính sách đang có xu hướng đưa thêm nhiều loại thuế, phí mới để đảm bảo nguồn thu vẫn phải duy trì.
Chính sách Việt Nam có khuynh hướng dịch chuyển nguồn thu khai thác nội địa nhiều hơn nhằm cân bằng, duy trì nguồn thu, khi mà thu thuế từ xuất nhập khẩu giảm đi do phải thực hiện cam kết từ các hiệp định thương mại. Vậy là khi nguồn thu của Chính phủ giảm xuống, thì Chính phủ sẽ có xu hướng chuyển hướng nguồn thu vào trong nước và DN nội địa sẽ phải chịu nhiều loại thuế hơn, nghĩa vụ đóng góp vào ngân sách Nhà nước, cuối cùng thì vẫn là các đối tượng trong nước, DN, người lao động, người dân.
Với phương án tăng thuế để bù thu đặc biệt khi doanh nghiệp đang khó khăn khiến doanh nghiệp đã khó càng thêm khó. DN trong nước, đặc biệt là DN nhỏ và vừa sẽ đuối sức khi chịu tác động kép, vừa chịu áp lực cạnh tranh với DN nước ngoài, vừa phải “cõng” trên vai nhiều loại thuế phí.
Càng hội nhập sâu thì nguồn thu trực tiếp từ xuất nhập khẩu sẽ giảm xuống nhưng thị trường tăng lên. Song các đối tượng nước ngoài hưởng lợi nhiều hơn. Tỷ trọng thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu trên tổng thu trong những năm qua có giảm nhưng về giá trị tuyệt đối tăng, do thuế giảm nhưng thị trường tăng. Giảm thuế nhập khẩu thì các hàng hóa nhập khẩu về có thể nhiều hơn và giúp tăng thu ngân sách.

Theo Báo Đất Việt