Năng suất lao động Việt Nam “kém” Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore... như thế nào?

N.Mạnh

15:48 25/11/2016

BizLIVE - Nếu so với Trung Quốc và Ấn Độ, năng suất lao động của Việt Nam tăng chậm hơn đáng kể, dẫn tới sự gia tăng của cả khoảng cách tuyệt đối và tương đối so với hai nước trên...

Năng suất lao động Việt Nam “kém” Trung Quốc, Ấn Độ, Singapore... như thế nào?

Ảnh minh họa.

Tại hội thảo khoa học quốc tế “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những vấn đề đặt ra đối với phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam” do Ban Kinh tế Trung ương tổ chức ngày 25/11, đại diện Bộ Công Thương đã có bài tham luận đi sâu phân tích về tình hình năng suất lao động Việt Nam trong giai đoạn vừa qua.
Đại diện Bộ Công thương cho biết, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư ảnh hưởng lớn đến thị trường lao động, năng suất lao động nói chung và của ngành công nghiệp nói riêng.
Cụ thể, năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2015 theo giá hiện hành ước tính đạt 79,3 triệu đồng/lao động (tương đương khoảng 3.657 USD/lao động).
Theo giá so sánh năm 2010, năng suất lao động của Việt Nam năm 2015 tăng 6,4% so với năm 2014, bình quân giai đoạn 2006-2015 tăng 3,9%/năm, trong đó giai đoạn 2006-2010 tăng 3,4%/năm; giai đoạn 2011-2015 tăng 4,3%/năm.
Đáng lưu ý, năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua đã có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăng đều qua các năm, khoảng cách tương đối về năng suất lao động với các nước ASEAN được thu hẹp dần.
Cụ thể, nếu năm 1994 năng suất lao động của Singapore, Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia lần lượt gấp 29,2 lần; 10,6; 4,6; 3,1 và 2,9 lần năng suất lao động của Việt Nam thì năm 2013 khoảng cách tương đối này giảm xuống tương ứng còn 18 lần; 6,6; 2,7; 1,8 và 1,8 lần.
Tuy nhiên, năng suất lao động của nước ta hiện nay vẫn còn ở mức thấp so với các nước trong khu vực, khoảng cách tuyệt đối đang ngày càng có xu hướng tăng lên.
Ngoại trừ Brunei và Philippines, khoảng cách tuyệt đối (chênh lệch GDP trên mỗi lao động) giữa năng suất lao động của Việt Nam với hầu hết các nước ASEAN ở trình độ phát triển cao hơn lại gia tăng trong giai đoạn trên:
Chênh lệch giữa năng suất lao động (tính theo PPP 2005) của Singapore và Việt Nam tăng từ 62.052 USD năm 1994 lên 92.632 USD năm 2013; tương tự, của Malaysia từ 21.142 USD lên 30.311 USD; Thái Lan từ 7.922 USD lên 9.314 USD; Indonesia từ 4.104 USD lên 4.408 USD. Đáng chú ý là nếu so với Trung QuốcẤn Độ, năng suất lao động của Việt Nam tăng chậm hơn đáng kể, dẫn tới sự gia tăng của cả khoảng cách tuyệt đối và tương đối so với hai nước trên.
Đáng chú ý, đại diện Bộ Công thương cho biết, nếu so với Trung Quốc và Ấn Độ, năng suất lao động của Việt Nam tăng chậm hơn đáng kể, dẫn tới sự gia tăng của cả khoảng cách tuyệt đối và tương đối so với hai nước trên.
Điều này cho thấy khoảng cách và thách thức nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt trong việc bắt kịp mức năng suất của các nước.
Nguyên nhân chủ yếu được báo cáo đưa ra, đó là do: quy mô kinh tế của nước ta còn nhỏ, xuất phát điểm thấp; cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch; lao động trong nông nghiệp và lao động khu vực phi chính thức còn chiếm tỷ lệ cao, trong khi năng suất lao động ngành nông nghiệp và khu vực phi chính thức ở nước ta thấp.
Máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ còn lạc hậu; chất lượng, cơ cấu và hiệu quả sử dụng lao động chưa đáp ứng yêu cầu. Trình độ tổ chức, quản lý và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn nhiều bất cập ICOR khoảng 6,91, tăng trưởng chủ yếu dựa vào đóng góp của yếu tố vốnvà lao động, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) còn thấp khoảng 29%.
Ngoài ra, còn một số “điểm nghẽn” và “rào cản” về cải cách thể chế và thủ tục hành chính chậm được khắc phục. Năng suất lao động chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố: Tăng cường vốn, cơ sở hạ tầng, nhà xưởng, thiết bị và TFP.
Năng suất lao động khu vực nào cao nhất?
Tham luận của Bộ Công thương cũng cho biết, trong 10 năm qua, mặc dù năng suất lao động khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có mức tăng bình quân cao nhất, nhưng năng suất lao động của khu vực này vẫn rất thấp, chỉ tạo ra khoảng 31,1 triệu đồng/lao động trong năm 2015 (theo giá hiện hành), bằng 39,2% mức năng suất lao động chung của toàn nền kinh tế.
Trong khi đó, năng suất lao động khu vực công nghiệp, xây dựng và khu vực dịch vụ lớn hơn nhiều lần khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, nhưng do tốc độ tăng năng suất lao động thấp hơn, nên khoảng cách về năng suất lao động giữa khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản so với hai khu vực này ngày càng được thu hẹp.
Trong số các ngành kinh tế công nghiệp cấp I, ngành khai khoáng có năng suất lao động cao nhất với mức bình quân một lao động năm 2015 theo giá hiện hành đạt 1,74 tỷ đồng, gấp 21,9 lần mức năng suất lao động chung của toàn nền kinh tế.
Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 1,15 tỷ đồng, gấp 14,5 lần.
Một số ngành có năng suất lao động đạt trên 100 triệu đồng/lao động như: Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chủ yếu là gia công lắp ráp nên năng suất lao động cũng như tốc độ tăng năng suất không cao, đạt 68,8 triệu đồng/lao động, bằng khoảng 87% năng suất lao động chung toàn xã hội.

N.MẠNH