Mỹ đầu tư mạnh: Cơ hội Việt Nam tiệm cận Singapore (P1)

Vũ Lan

21:25 22/06/2015

Thu hút đầu tư Mỹ, Việt Nam có thể được nhiều phương diện thu hút công nghệ cao, kỹ năng quản lý, tinh thần, kiểu cách kinh doanh kiểu Mỹ,…

Mỹ đầu tư mạnh: Cơ hội Việt Nam tiệm cận Singapore (P1)

Ảnh minh họa.

PV:-Thưa ông, nếu  VN ký kết hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do Việt Nam –EU và TPP, theo nhiều nhận định trong thời gian tới VN sẽ bùng nổ làn sóng đầu tư nước ngoài rất lớn, trong đó có cả đầu tư vào công nghệ cao, có hàm lượng chất xám cao. Sự tăng tốc đầu tư của Mỹ vào VN cùng sự mở rộng của doanh nghiệp công nghệ cao như Intel sẽ mở ra cơ hội như thế nào cho Việt Nam?  

TS Lê Xuân Sang: Việc ký kết các hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU và TPP, về mặt lý thuyết có thể giúp tăng mạnh đầu tư giữa các thành viên tham gia, nhất là đầu tư vào Việt Nam từ các quốc gia phát triển này. Tuy vậy, việc bùng nổ vào lĩnh vực đầu tư nào còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố, tùy thuộc vào chiến lược, động cơ đầu tư, các lợi thế so sánh, lợi thế cạnh tranh của các nhà đầu tư nước ngoài cũng như môi trường đầu tư - kinh doanh của Việt Nam và những lợi ích tiềm năng mà các nhà đầu tư nước ngoài có thể thu được từ hoạt động đầu tư ở Việt Nam.

Nhìn chung, các nhà đầu tư nước ngoài thường có 4 động cơ chính khi đầu tư ra nước ngoài, đó là động cơ nâng cao hiệu quả kinh doanh; mở rộng thị trường; tìm kiếm, khai thác tài nguyên; và tìm kiếm, thâu tóm, mua lại, hợp nhất các tài sản chiến lược (chủ yếu thông qua M&A). Hai động cơ khác, với các mức độ khác nhau cũng có liên qua tới 4 động cơ trên là vị trí địa kinh tế/địa chính trị và chiến lược san sẻ rủi ro đầu tư kinh doanh của nhà đầu tư (không bỏ trứng vào một giỏ).

Các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, trong đó có doanh nghiệp Mỹ cũng theo một số, thậm chí tất cả 6 động cơ trên, tùy ngành hàng, lĩnh vực đầu tư. Có thể nói hầu hết các nhà đầu tư đều có động cơ nâng cao hiệu quả kinh doanh và mở rộng thị trường vào Việt Nam (một thị trường có trên 90 triệu dân, chủ yếu là người trẻ tuổi, tăng trưởng GDP và thu nhập cao, có thiên hướng tiêu dùng cao, nguồn lao động giá tương đối rẻ, khéo tay...).

Động cơ tìm kiếm, khai thác tài nguyên có thể thấy nhiều nhất ở các nhà đầu tư Trung Quốc. Các nước phát triển và chuyển đổi khác như Mỹ, Anh, Nga cũng tham gia trong lĩnh vực khai thác dầu khí, dẫu thế, Mỹ và Anh lại thoái lui đầu tư một số dự án chủ yếu có liên quan tới những vấn đề chính trị (tranh chấp chủ quyền lãnh hải). Các hoạt đông M&A khá sôi động trong vài ba năm gần đây với các nhà đầu tư đến cả từ các nước phát triển và đang phát triển.

Vấn đề địa kinh tế, địa chính trị và san sẻ rủi ro (còn gọi là Trung Quốc cộng (+) được các nước phát triển (Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc) coi trọng trong thời gian gần đây, khi các xung đột lãnh hải bùng phát. Mỹ là nước tích cực nhất trong theo đuổi các động cơ này, nhất là khi nước này có chiến lược chuyển trục sang Đông Á, với TPP được coi là công cụ kinh tế - chính trị thực hiện chiến lược này.

Cuối cùng, có hai yêu tố nữa khiến Việt Nam trở nên "hấp dẫn" các nhà đầu tư nước ngoài là khung pháp lý còn không ít lỗ hổng, chế tài xử phạt vi phạm yếu kém (ví dụ về chuyển giá, ô nhiễm môi trường, tiêu hao nhiều năng lượng,..) và yếu kém trong giám sát cấp phép, thực hiện lĩnh vực hoạt động đầu tư (ví dụ cho phép đầu tư bất động sản trên bãi biển, những địa điểm nhạy cảm về an ninh,...).

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến thời điểm tháng 2/2015, Mỹ có 729 dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng nguồn vốn trên 11.035 tỷ USD, xếp thứ 7 trong 101 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam. Các doanh nghiệp Mỹ đã có mặt hầu hết các ngành nghề đầu tư vào 17/18 ngành nghề và có mặt tại 42/63 tỉnh thành. Sự có mặt của các doanh nghiệp Mỹ vừa là cơ hội cho một số nhóm ngành, ví dụ công nghệ thông tin (IT) vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp trong nước (ví dụ, một số ngành chăn nuôi và trồng trọt). Tuy vậy, cơ hội và thách thức không phải là tuyệt đối một chiều.

Việc thu hút đầu tư ngành công nghệ cao (ví dụ như smartphone) có đóng góp quan trọng thu ngân sách địa phương, tạo việc làm, song giá trị gia tăng tạo ra trong nước thường quá thấp (cách đây khoảng 5 năm, mỗi một chiếc Iphone tạo ra giá trị gia tăng cho Trung Quốc chỉ 1 USD). Như vậy, đầu tư công nghệ cao từ Mỹ vào Việt Nam là tích cực, song điều quý báu hơn là các dự án đầu tư này nên mang lại lợi ích kinh tế - công nghệ, tạo tác động lan tỏa đối với nền kinh tế Việt Nam càng nhiều càng tốt.

Ngoài những đóng góp “truyền thống” (như đóng góp cho ngân sách và lao động địa phương, xuất khẩu ròng), các FDI công nghệ cao kiểu như Intel cần tạo ra tác động lan tỏa, bền vững trong dài hạn hơn nữa như thành lập nhiều hơn nữa các trung tâm R&D (đã có 1 Trung tâm), phòng thí nghiệm tại Việt Nam, chuyển giao nhiều hơn công nghệ cho phía Việt Nam; giúp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; có vai trò (dẫn dắt, sáng lập, cầu nối hay xúc tác) lớn hơn trong việc hình thành các cụm liên kết ngành (industrial cluster), các cơ sở ươm tạo công nghệ, doanh nghiệp công nghệ (technology business incubator) cũng như vốn đầu tư mạo hiểm (venture capital) cho các doanh nghiệp khởi nghiệp trong nước.

PV:- Vậy theo ông, Việt Nam cần thay đổi thế nào để sẵn sàng đón nhận những cơ hội đó?

TS Lê Xuân Sang: Để những cơ hội này hiện thực, Việt Nam cần tạo dựng môi trường tốt hơn cho doanh nghiệp khởi nghiệp như xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật liên quan tới sự hỗ trợ hình thành, phát triển các doanh nghiệp khoa học - công nghệ, cụm liên kết ngành, các cơ sở ươm tạo công nghệ và vốn đầu tư mạo hiểm. Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách đào tạo, giáo dục nói chung và liên quan tới phát triển công nghệ cao, nhân lực công nghệ cao là đường hướng quan trọng trong thời gian tới.

Việt Nam nắm cơ hội thế nào?
Việt Nam nắm cơ hội thế nào?.

Điều không kém phần quan trọng là các quy định về niêm yết doanh nghiệp khoa học công nghệ trên thị trường chứng khoán nên thuận lợi hơn để giúp các nhà đầu tư mạo hiểm trong và ngoài nước (kỳ vọng lớn vào doanh nghiệp Mỹ) có thể “rút lui” (thoái vốn) trong quá trình đầu tư, ươm tạo doanh nghiệp và sản phẩm công nghệ.

Nhà nước nên đóng vai trò lớn hơn trong cung cấp thông tin về các doanh nghiệp nước ngoài, trong đó có Mỹ và các doanh nghiệp trong nước tạo quan hệ tìm hiểu đối tác cho các doanh nghiệp hai bên. Quản trị yếu kém (chủ yếu kiểu gia đình trị), kể cả các chuẩn mực kế toán, tài chính yếu kém là những yếu tố cản trở các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư, tham gia cổ phần vào các doanh nghiệp trong nước. Do vậy, các doanh nghiệp trong nước cần tự đổi mới, thậm chí “lột xác” để phát triển, sống sót trong giai đoạn phát triển mới: giai đoạn cạnh tranh toàn khu vực và toàn cầu.

PV:- Thực tế, đã từng xuất hiện một làn sóng đầu tư từ Mỹ vào Việt Nam với các thương hiệu toàn cầu như Cocacola, Pepsico… Tuy nhiên, những lợi ích đó dường như rất “nhất thời” trong khi những nghi ngại của dư luận về vấn đề chưa minh bạch thuế, chuyển giá vẫn chưa có lời giải. Thưa ông, Việt Nam nên rút kinh nghiệm như thế nào từ những trường hợp trên để tận dụng lợi thế tốt hơn? 

TS Lê Xuân Sang: Cocacola, Pepsico là những thương hiệu lớn có tiếng từ hàng trăm năm nay trong lĩnh vực giải khát của Mỹ. Mục tiêu đầu tư của những thương hiệu này cũng nhằm tìm kiếm một số động cơ như đã phân tích ở trên. Trong giai đoạn mới mở cửa, Việt Nam thu hút đầu tư trong lĩnh vực này còn mang tính truyền thống: giải quyết những khó khăn, thâm hụt ngân sách quốc gia; giải quyết công ăn việc làm cho người lao động trong nước… 

Ở giai đoạn phát triển mới, các doanh nghiệp FDI phi công nghệ cao không nên là lĩnh vực được ưu tiên thu hút bằng mọi giá. Các lĩnh vực này có đóng góp cho nguồn ngân sách, song ít tạo lan tỏa về công nghệ, kỹ năng quản lý, đặc biệt lại vướng nhiều nghi ngại về chuyển giá. Thực tế, câu chuyện trốn thuế, chuyển giá không chỉ xảy ra với riêng Việt Nam mà còn là hiện tượng toàn cầu. Nhưng ở Việt Nam hiện tượng này phổ biến và trầm trọng hơn, bức xúc hơn, kể cả ở những doanh nghiệp nước ngoài liên doanh với doanh nghiệp có vốn nhà nước. Nguyên nhân có thể do thiếu trách nhiệm, có thể do trình độ, năng lực quản lý yếu kém cũng có khi do tham nhũng, bị mua chuộc, nên có khi người đại diện quản lý của doanh nghiệp nhà nước lại tiếp tay cho doanh nghiệp nước ngoài. “Chiêu bài” quen thuộc” của các phía liên doanh nước ngoài là báo lỗ ròng liên tục, khiến liên doanh trong nước không trụ được (do phải cùng gánh lỗ) mà dần buộc phải rút lui. 

Đối phó với tình trạng này, một số nước, ví dụ Nga và Trung Quốc có kinh nghiệm có thể tham khảo. Bằng các cách khác nhau, các nước này đã hỗ trợ, nhất là hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp liên doanh trong nước tự nâng cao nội lực; ngăn chặn báo lỗ giả cùng các biện pháp phát hiện sớm tình trạng chuyển giá, nhờ vậy mà các doanh nghiệp liên doanh trong nước của họ có thể sống sót được, thậm chí thâu tóm được phía liên doanh nước ngoài, biến doanh nghiệp liên doanh thành doanh nghiệp trong nước. Ở Việt Nam, trong nhiều trường hợp là ngược lại. 

 

Theo Báo Đất Việt