Mệnh lệnh chồng chéo và những tổn thất vô giá

Vũ Minh Khương

07:16 05/05/2016

Nếu không có kiểm toán chiến lược (KTCL), hiện tượng chồng chéo là điều khó tránh khỏi. Nếu điều này cứ tiếp tục diễn ra, Việt Nam sẽ không chỉ mất đi cơ hội phát triển vô giá mà còn chịu nhiều tốn thất, dù cố gắng đến đâu cũng không thể hồi phục.

Mệnh lệnh chồng chéo và những tổn thất vô giá

Ảnh minh họa.

Công cuộc đổi mới 30 năm, khởi đầu từ năm 1986, đã đưa Việt Nam từ một nền kinh tế bao cấp, lạc hậu, và cô lập trở thành một nền kinh tế thị trường sống động với độ hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.

Việt Nam đã khai thác khá tốt lợi thế vị trí chiến lược, ổn định chính trị, và nguồn lực lao động dồi dào để đạt được những thành quả ấn tượng này. Tuy nhiên, mô hình khai thác lợi thế thô như giai đoan 30 năm qua chỉ đủ để giúp đất nước thoát nghèo đói chứ chưa đủ đưa quốc gia đến phồn vinh. Bẫy thu nhập trung bình và mô hình phát triển thiếu bền vững hiện tại sẽ không chỉ làm chậm lại tốc độ tăng trưởng mà còn dễ xảy ra tích tụ nguy cơ khủng hoảng nếu Việt Nam không có một điều chỉnh căn bản về chiến lược phát triển và cải biến sâu sắc về phương thức vận hành nền kinh tế trong thời gian tới.

Chính phủ mà người đứng đầu là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong cuộc gặp các doanh nghiệp hôm 29/4 vừa qua đã thể hiện sự đồng cảm đặc biệt với giới doanh nghiệp và quyết tâm cao trong nỗ lực đổi mới.  Nếu được định hướng và phối thuộc chặt chẽ bởi khung thức chiến lược có hiệu lực và thống nhất cao, các nỗ lực này sẽ mang lại kết quả mong đợi. Kiểm toán chiến lược (KTCL) là một bước đi then chốt giúp tạo nên khung thức chiến lược này. Do vậy, tiến hành KTCL cần là một ưu tiên hàng đầu của chính phủ và doanh nghiệp trong thời gian tới.

Kiểm toán chiến lược là gì?

KTCL có thể hiểu là một qui trình đánh giá toàn diện và sâu sắc các khía cạnh chiến lược trong nỗ lực phát triển của một quốc gia, địa phương, ngành công nghiệp, hay một doanh nghiệp.

Mục tiêu của KTCL là thấu hiểu thực lực, lợi thế, và hạn chế của nền kinh tế trong mô hình tăng trưởng hiện tại trước các cơ hội, thách thức, và xu thế toàn cầu. Từ đó đưa ra các khuyến nghị về các hướng đi chiến lược, chương trình cải cách, và sáng kiến hành động nhằm tạo ra những chuyển biến bước ngoặt, làm tăng tốc mạnh mẽ công cuộc phát triển.

KTCL đem lại những giá trị đặc biệt bởi bốn lý do sau. Thứ nhất, sự thay đổi nhanh chóng của cả môi trường khách quan và điều kiện nội tại của nền kinh tế thường làm mô hình tăng trưởng trở nên lạc hậu sau một thời gian nhất đinh.

Tại sao cần kiểm toán chiến lược?

Mô hình tăng trưởng lạc hậu không chỉ làm thấp đi hiệu quả của nền kinh tế mà còn tích tụ những rủi ro có thể gây nên khủng hoảng khi nền kinh tế gặp phải những cú sốc từ bên ngoài. KTCL giúp mỗi quốc gia cũng như doanh nghiệp điều chỉnh đúng lúc mô hình tăng trưởng để kịp thời thích ứng với đổi thay.

Thứ hai, KTCL giúp lãnh đạo chính quyền cũng như doanh nghiệp tránh được sự bùng phát của các yếu tố triết giảm thường phát sinh từ một thời kỳ tăng trưởng nhanh.

Chẳng hạn, vị thế thuận lợi thường làm giảm mức độ sâu sắc của tư duy và tầm nhìn; nguồn lực dồi dào thường làm giảm sút ý thức học hỏi và cầu hiền tài; cơ hội phong phú dễ dẫn đến những lựa chọn thiếu sáng suốt.

Thứ ba, KTCL tạo một diễn đàn quan trọng khai thác trí tuệ xã hội, đặc biệt từ giới doanh nghiệp và chuyên gia, cho hoạch định chiến lược phát triển.

Các thảo luận rộng khắp và sâu sắc trong diễn đàn này cũng giúp tạo nên  sự đồng thuận và tinh thần hợp tác cao trong toàn xã hội; đặc biệt là giữa các cơ quan chính phủ, doanh nghiệp, và giới chuyên gia; cũng như giữa các doanh nghiệp của mọi thành phần kinh tế.

Thứ tư, KTCL giúp chỉ ra những hướng đi chiến lược và giải pháp khả thi, làm nền tảng đặc biệt giá trị cho hoạch định chính sách và triển khai các chương trình hành động. KTCL sẽ cho thấy rằng nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế sẽ hiệu quả hơn nếu nó đặt trong chiến lược tổng thể giúp nền kinh tế có bước tiến vượt bậc.

Thiếu KTCL, nỗ lực cải thiện môi trường kinh doanh đơn lẻ, thiếu tầm chiến lược, sẽ chỉ đem lại các kết quả hạn chế. Nó có thể ví như việc tưới nước, bón phân theo chỉ thị có thể giúp vườn cây xanh tốt hơn trong thời khoảng nhất định, nhưng không đảm bảo tạo nên một hệ sinh thái dồi dào sức sống và mùa hoa trái bội thu.

Cũng như vậy, KTCL có thể giúp Chính phủ thấy rõ hơn tính quan trọng và cấp bách trong giúp các doanh nghiệp “kiến nghiệp”.  Nghĩa là làm sao các doanh nghiệp nhỏ có thể lớn nhanh hơn, tăng năng suất lao động mạnh mẽ hơn, và có sức cạnh tranh toàn cầu cao hơn. “Khởi nghiệp”là một nỗ lực quí cần được đặc biệt hỗ trợ; thế nhưng coi đây là nội dung trọng tâm hàng đầu để hỗ trợ doanh nghiệp như thảo luận trong cuộc họp của Thủ tướng với doanh nghiệp hôm 29/4 có lẽ chưa phải là một lựa chọn đúng.

Cũng qua KTCL, chúng ta có thể nhận thấy vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững không chỉ cấp bách cho Vũng Áng mà cho tất cả các khu công nghiệp và các dự án đầu tư lớn. Từ đó chúng ta sẽ thấy cần áp dụng mạnh mẽ hơn kinh nghiệm quốc tế (chẳng hạn buộc tất cả các nguồn nước thải phải thu gom về trạm trung chuyển có sự giám sát quản lý chặt chẽ của cơ quan quản lý môi trường và thiết lập các trạm quan trắc với thông tin công khai hàng ngày về chất lượng khí và nước ở tất cả các địa điểm có nguy cơ ô nhiễm). 

Kiểm toán chiến lược: Một ví dụ khởi đầu

KTCL thường là nỗ lực hợp tác sâu rộng giữa chính phủ, doanh nghiệp, giới chuyên gia, và các tổ chức xã hội. Nó đòi hỏi tổ chức hàng trăm cuộc thảo luận với thời gian kéo dài khoảng 6 tháng. Hội đồng KTCL và các tiểu ban của nó có thể bao gồm đại diện lãnh đạo chính phủ và bộ ngành cùng đại diện giới doanh nghiệp, chuyên gia, và các tổ chức xã hội.

KTCL là một vấn đề rất quan trọng và có thể đem lại những giá trị đặc sắc. Tuy nhiên, do chưa có tiền lệ, việc đi đến quyết định tiến hành KTCL ở Việt Nam có lẽ còn cần nhiều tranh luận và thời gian. Để gợi ra những ý tưởng bước đầu cho thảo luận, người viết bài này xin đề cập đến một nội dung chắc chắn sẽ phải bàn đến một khi KTCL được thực hiện; đó là xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam.

Xuất khẩu dịch vụ là một chỉ số đặc biệt quan trọng về thực lực cạnh tranh, đẳng cấp nguồn nhân lực, và khả năng nắm bắt cơ hội của nền kinh tế tri thức mà các nước muốn thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình đều cần đặc biệt quan trọng. Vì vậy, hiểu rõ hơn kết quả hoạt động và thách thức mà Việt Nam đang gặp phải trong nỗ lực vươn lên trong lĩnh vực này cần là một nội dung quan trọng của KTCL.

kinh tế thị trường, Việt Nam, chiến lược, kiểm toán chiến lược
Xuất khẩu Dịch vụ của Việt Nam trong Tương quan với Khối ASEAN, 2005-2014.
Bảng tổng hợp số liệu về xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam trong tương quan với khối ASEAN trong thời gian 10 năm qua (2005-2014) cho thấy một số vấn đề rất đáng suy nghĩ sau.

Thứ nhất, xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam trong thời kỳ 2005-2014 tuy tăng khá nganh bằng với toàn khối ASEAN (11,3% so với 11,6%) nhưng tỷ trọng của Việt Nam so với ASEAN vào năm 2014 vẫn còn rất thấp trên chỉ số này (3,6%) so với tỷ trọng về dân số (14,6%) và GDP (7,4%).

Thứ hai, xuất khẩu dịch vụ từ hai lĩnh vực đặc biệt giá trị là dịch vụ tài chính và quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam đều có tăng trưởng âm (-2,5% cho dịch vụ tài chính; -25% cho quyền sở hữu trí tuệ); trong khi mức tăng này của toàn khối ASEAN trong cùng thời kỳ rất cao (16,5% cho dịch vụ tài chính; 16,8% cho quyền sở hữu trí tuệ). Hơn thế nữa, khoản thu 3 triệu US$ từ quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam vào năm 2014, chỉ chiếm 0,1% của khối ASEAN, là quá nhỏ bé so với tiềm năng.

Thứ ba, chúng ta nói khá nhiều về thế mạnh đặc biệt của Việt Nam trong phát triển CNTT. Thế nhưng tăng trưởng về xuất khẩu dịch vụ CNTT của nước ta là 7,8%, chỉ bằng phân nửa mức tăng của toàn khối ASEAN (14,6%).

Thêm nữa, Việt Nam mới chỉ chiếm tỷ trọng 3% trong tổng xuất khẩu dịch vụ CNTT của ASEAN, thấp hơn nhiều với ngành du lịch (6,8%), là ngành mà Việt Nam còn đang cần nhiều cải cách để vượt lên.

Ông Trần Bắc Hà trong cuộc gặp của Thủ tướng với cộng đồng doanh nghiệp hôm 29/4 có đưa ra một đề xuất hay thông qua ước muốn công cuộc phát triển kinh tế ở nước ta sẽ như một bản nhạc giao hưởng hùng tráng của dân tộc; trong đó, Thủ tướng là nhạc trưởng, các cơ quan công quyền là nhạc công, và doanh nghiệp là ca sĩ.

Với ví von này, KTCL có thể coi là một dịp tập luyện cần thiết để mọi thành viên thuộc vai, nhuần nhuyễn bản nhạc, và tạo nên cảm xúc gắn bó. Nếu không có KTCL, hiện tượng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” là điều khó tránh khỏi. Đây cũng là điều dễ nhận thấy trong cung cách quản lý kinh tế ở nước ta hiện nay.

Nếu điều này cứ tiếp tục diễn ra, Việt Nam sẽ không chỉ mất đi cơ hội phát triển vô giá mà còn chịu nhiều tốn thất lớn mà nhiều thế hệ sau, dù cố gắng đến đâu cũng không thể hồi phục.

Theo VietnamNet

BizLIVE - Gặp gỡ