Mặt trái của việc Trung Quốc tăng đầu tư vào Việt Nam

06:14 26/10/2015

Có những lý do để lo ngại về việc Trung Quốc gia tăng đầu tư vào Việt Nam.

Mặt trái của việc Trung Quốc tăng đầu tư vào Việt Nam

TS Dương Đình Giám, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp Bộ Công Thương

Trung Quốc có xu hướng chuyển dịch các ngành nghề có mức độ ô nhiễm cao sang các nước khác, trong đó có Việt Nam.

Trao đổi với PV bên lề cuộc hội thảo “Việt Nam trở thành một trung tâm chế biến, chế tạo mới của thế giới sau năm 2015” vừa diễn ra tại Hà Nội, TS Dương Đình Giám, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp Bộ Công Thương, nhìn nhận như trên.

Ông Giám thông tin: Các nhà đầu tư của Trung Quốc hiện đang quan tâm nhiều hơn đến thị trường Việt Nam, đặc biệt sau khi Việt Nam kết thúc đàm phán Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) với các nước.

Làm giảm sức cạnh tranh hàng Việt

Phóng viên: Ông đánh giá thế nào về dòng vốn đầu tư từ Trung Quốc vào Việt Nam trong thời gian qua?

+ TS Dương Đình Giám: Nguồn vốn từ Trung Quốc bổ sung nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển của Việt Nam. Chẳng hạn những tỉnh sát biên giới phía Bắc, nhờ đầu tư từ Trung Quốc nên tốc độ đô thị hóa được đẩy nhanh, thu hẹp khoảng cách phát triển với các vùng khác. Ngoài ra, một số ngành sản xuất phụ trợ cung cấp nguyên, vật liệu đầu vào của chúng ta cũng phát triển theo...

. Nhưng nhiều ý kiến cảnh báo rằng dường như những tín hiệu lạc quan đối với đầu tư từ Trung Quốc không nhiều bằng các lo ngại. Ông nhận định ra sao về ý kiến này?

+ Có những lý do để lo ngại về việc Trung Quốc gia tăng đầu tư vào Việt Nam. Chẳng hạn các doanh nghiệp (doanh nghiệp) Việt Nam hiện chưa có năng lực đủ mạnh sản xuất các nguyên, phụ liệu hỗ trợ cho hàng hóa xuất khẩu của doanh nghiệp Trung Quốc và nước ngoài nên các doanh nghiệp Việt Nam  phải nhập nguyên, phụ liệu từ Trung Quốc sang. Điều này làm cho Việt Nam trở thành quốc gia nhập siêu đối với Trung Quốc.

Tỉ lệ các dự án đầu tư vào dầu mỏ và khai khoáng của Trung Quốc vào nước ta chiếm tới 70% tổng số các dự án, trong đó đáng chú ý là các dự án sắt, thép, xi măng, bauxite… Điều này có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến trữ lượng tài nguyên, vốn là một trong những nguồn lực phát triển của Việt Nam trong tương lai.

Những dự án này chắc chắn đem lại lợi ích cho Trung Quốc nhưng lại tác động không tốt đến sự phát triển bền vững của Việt Nam, trong đó việc ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên là rất nghiêm trọng.

Người dân đi ngang qua hồ bùn đỏ của nhà máy sản xuất alumin ở Tân Rai, Nhân Cơ, Đắk Nông phải bịt mũi vì mùi hôi. Ảnh: CHÂN LUẬN

Có tham vọng muốn kiểm soát thị trường

. Thời gian qua Trung Quốc đã đóng cửa hàng chục ngàn nhà máy do công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Ông có lo ngại các doanh nghiệp Trung Quốc tuồn công nghệ bị loại thải này vào Việt Nam?

+ Đúng là Trung Quốc có xu hướng chuyển dịch các ngành nghề có mức độ ô nhiễm cao sang các nước khác. Việt Nam ở sát Trung Quốc nên điều này là không thể tránh khỏi. Những công nghệ lạc hậu mà Trung Quốc đưa sang Việt Nam có thể đẩy lùi sự phát triển công nghệ mà Việt Nam ang nỗ lực và làm cho Việt Nam mất cân bằng sinh thái.

Công nghệ của Trung Quốc nhập vào Việt Nam thường cho năng suất thấp, hiệu quả kém, chất lượng sản phẩm làm ra không cao như trường hợp một số nhà máy nhiệt điện chẳng hạn. Mặt khác, nó sẽ làm cho sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam giảm đi đáng kể.

. Thực tế nhiều năm qua cho thấy dù chúng ta kêu gọi phải giảm phụ thuộc vào kinh tế Trung Quốc nhưng nhập siêu từ Trung Quốc liên tục gia tăng. Theo ông, vì sao vậy?

+ Hiện nay chúng ta đang thấy hàng hóa chất lượng rất thấp của Trung Quốc vẫn có mặt ở Việt Nam. Sự lơi lỏng về quy trình, chính sách kiểm soát thị trường của chúng ta có thể đã gây ra tình trạng này. Đối tượng bị thiệt hại đầu tiên chính là người tiêu dùng.

Xét thực tế cơ cấu sản phẩm thương mại Việt Nam-Trung Quốc, chúng ta thấy Trung Quốcxuất khẩu sang Việt Nam những mặt hàng như hóa chất, sản phẩm chế tác cơ bản, máy móc, thiết bị... Còn Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu nguyên liệu thô như khoáng sản, nông, lâm, thủy sản... Hệ quả là càng làm cho Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc nhiều hơn.

Theo số liệu từ ngành hải quan, đến tháng 7-2015, nhập siêu của Việt Nam với Trung Quốc đã lên tới gần 18 tỉ USD.

Đầu năm 2015, Trung Quốc còn đề nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho thanh toán đồng nhân dân tệ trực tiếp tại Việt Nam. Qua đó cho thấy tham vọng gia tăng ảnh hưởng, kiểm soát thị trường và nền kinh tế Việt Nam của Trung Quốc là khá rõ ràng!

Phải khôn ngoan

. Sau khi Việt Nam kết thúc đàm phán TPP, có nhiều tín hiệu cho thấy các doanh nghiệp Trung Quốc càng quan tâm đến thị trường Việt Nam nhiều hơn, thưa ông?

+ Điều này cũng là điều dễ hiểu. Ví dụ: Các doanh nghiệp Trung Quốc bắt đầu dịch chuyển đầu tư vào ngành dệt may nhằm tranh thủ sự ưu đãi về thuế với nguyên tắc xuất xứ từ sợi mà TPP đã quy định.

Nhưng động thái trên có thể làm cho Việt Nam dễ trở thành một nước gia công, chế biến với lợi nhuận thấp, môi trường bị ảnh hưởng. Các doanh nghiệp Việt Nam dễ bị “thôn tính” bằng các hình thức đầu tư, liên doanh.

Một động thái khác cũng cần chú ý, đó là khi sang Việt Nam, các doanh nghiệp Trung Quốc thường đem theo số lượng lao động lớn.

Thể hiện rõ nhất là ở các dự án tại Vũng Áng (Hà Tĩnh) hay Trung tâm Điện lực Duyên Hải, cũng như các dự án bauxite ở Tây Nguyên. Nó đồng nghĩa với việc sẽ làm giảm cơ hội việc làm của lao động Việt Nam, phát sinh các vấn đề xã hội, trật tự an ninh, văn hóa.

. Không ít ý kiến đề nghị để giảm phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc thì chúng ta nên tìm cách “thoát Trung”. Quan điểm của ông về vấn đề này ra sao?

+ Sự gần gũi về địa lý và một số sự tương đồng giữa hai nước làm cho việc “thoát Trung” là rất khó! Và cách khôn ngoan hơn, chúng ta phải tìm cách “chơi” bình đẳng với Trung Quốc.

Cụ thể, cần phải kiểm soát chặt chẽ việc cấp phép đầu tư vào lĩnh vực khai khoáng theo những tiêu chí, nguyên tắc nghiêm ngặt, tránh chảy máu tài nguyên. Với những ngành ô nhiễm cao, cần phải có quy định, ràng buộc hữu hiệu, quy trình xử lý chất thải, khí thải phải đạt mức độ cao.

Đối với công nghệ, dây chuyền sản xuất, cần giám sát để tránh việc các doanh nghiệp Trung Quốcchuyển các công nghệ lạc hậu, ô nhiễm sang Việt Nam.

. Xin cám ơn ông.

Trung Quốc đầu tư vào 52 tỉnh, thành

Theo các số liệu thống kê, hiện có trên 810 doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào 52 tỉnh, thành của Việt Nam. Tính đến năm 2014, các dự án của Trung Quốc đầu tư vào Hà Nội là 202, TP.HCM: 110, Bình Dương: 100, Long An: 54, Hải Phòng: 49…

Các doanh nghiệp Trung Quốc đầu tư vào hầu hết các ngành nghề, lĩnh vực tại Việt Nam, trong đó tập trung vào dầu mỏ, hóa chất, máy móc và bán buôn, bán lẻ. Khai khoáng hiện đang là một lĩnh vực mà Trung Quốc đầu tư mạnh mẽ tại Việt Nam với 87 dự án vẫn còn hiệu lực hoạt động.

Chúng ta cần phải kiểm soát chặt chẽ chất lượng hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc hoặc hàng hóa do các doanh nghiệp Trung Quốc sản xuất tại Việt Nam. Hành động này không những là để bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam mà còn bảo vệ hình ảnh, uy tín của hàng hóa Việt Nam.

TS DƯƠNG ĐÌNH GIÁM

 

Theo phapluattp.vn

Thăm dò ý kiến
Từ 1/1/2018 khi xăng A92 bị "khai tử", bạn sẽ sử dụng loại xăng nào?

Emagazine