Hầu hết luật pháp Việt Nam đã tương thích với cam kết trong TPP

Nguyễn Thoan

08:33 28/10/2016

BizLIVE - Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và hội nhập, VCCI cho biết: “Điều đáng lo ở luật pháp Việt Nam khi gia nhập TPP là vấn đề thực thi pháp luật, nếu chúng ta không tuân thủ những quy định pháp luật thì sẽ rất dễ bị các nhà đầu tư nước ngoài kiện”.

Hầu hết luật pháp Việt Nam đã tương thích với cam kết trong TPP

Ảnh minh họa.

Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được nhiều chuyên gia đánh giá là mở ra nhiều cơ hội mới cho kinh tế Việt Nam như gia nhập vào một thị trường rộng lớn hơn, chuyên nghiệp hơn. Tuy nhiên, cũng nhiều thách thức đang đặt ra cho Việt Nam, trước thềm ngưỡng cửa mới đặc biệt là vấn đề luật pháp, khi hệ thống luật của chúng ta còn chưa hoàn thiện.
Để bàn về vấn đề tương thích giữa luật pháp Việt Nam và các FTA, mới đây, phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã tổ chức hội thảo tham vấn “Rà soát pháp luật Việt Nam với các cam kết TPP về đầu tư” nhằm đưa kết quả rà soát và đề xuất hoàn thiện pháp luật từ góc độ lợi ích doanh nghiệp.
"Hầu hết luật pháp Việt Nam đã tương thích với TPP"
Tại hội thảo, bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và hội nhập cho biết: TPP và EVFTA là những FTA thế hệ mới, các cam kết mà các bên đưa ra không chỉ dừng lại ở biên giới, mà nó còn liên quan đến thuế quan, hải quan, các biện pháp phòng vệ thương mại và đầu tư. 
Trong đó, đầu tư là lĩnh vực có tác động mạnh nhất đến môi trường kinh doanh ở nước ta, vì thế việc rà soát luật có vai trò quan trọng nhằm cải cách môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam. Và việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh cần hướng tới thu hút nhà đầu tư trong nước xong rồi mới đến đầu tư nước ngoài, bà Trang nhấn mạnh.
Theo bà Trang, nguyên tắc về mở của thị trường xoá ra rào cản đầu tư theo theo TPP bao gồm: nguyên tắc đối xử quốc gia, nguyên tắc đối xử tối huệ quốc, nguyên tắc đặt ra các yêu cầu với hoạt động của nhà đầu tư, nguyên tắc liên quan đến nhân sự quản lý cấp cao (ví dụ: phải có quốc tịch Việt Nam, số lượng nhân sự Việt Nam trong các doanh nghiệp chủ thể nước ngoài); nguyên tắc bảo vệ tài sản của nhà đầu tư (chuẩn đối xử tối thiểu, nếu tước quyền sở hữu nhà đầu tư thì chỉ được tước trong trường hợp nào và phải bồi thường như thế nào? Trường hợp có vũ trang bạo loạn thì phải đối xử với nhà đầu tư như thế nào? Nhà đầu tư muốn chuyển tài sản ra nước ngoài thì phải chuyển như thế nào...)
Bà Trang cho biết: Rà soát pháp luật Việt Nam có thể thấy hầu hết các quy định luật pháp của Việt Nam đã tương thích với các điều khoản trong hiệp định TPP. Cụ thể, quy định các vấn đề về thành lập, hoạt động, cho đến giải thể là như nhau giữa các nhà đầu tư nước ngoài và trong nước, đa số đã tương thích với cam kết trong TPP. 
Tuy nhiên hiện nay chúng ta vướng ở các quy định ở địa phương. Bởi hiện nay chúng ta không có biện pháp nào để kiểm soát các văn bản quyết định của các cơ quan ở địa phương. Mặc dù khi có văn bản pháp luật địa phương phải tuân thủ, nhưng quyết định hành chính của họ thì rất khó kiểm soát, bà Trang nêu vấn đề.
Bà Trang cho biết, hiện nay các nhà đầu tư nước ngoài kiện nhà nước nơi nhận đầu tư về chuẩn đối xử tối thiểu rất nhiều. Và chuẩn đối xử tối thiểu là ít nhất phải cung cấp cho nhà đầu tư ngoài công lý thông qua các thủ tục tố tụng, toà án, còn phải đảm bảo an toàn cho tính mạng, tài sản nhà đầu tư, đồng thời đưa một số quy định giới hạn tranh chấp. 
Theo đó, điều đáng lo ở luật pháp Việt Nam là vấn đề thực thi chứ không phải trên văn bản giấy tờ. “Và nếu chúng ta không tuân thủ những quy định của pháp luật thì sẽ rất dễ bị các nhà đầu tư nước ngoài kiện, vì thế điều đáng quan tâm hơn cả lúc này là chuyện thiết lập cơ chế đảm bảo không vi phạm các cam kết trong tương lai”, bà Trang nhận định. 
"Không ít các rào cản đang tồn tại trong hệ thống ở Việt Nam"
Ông Phạm Mạnh Dũng, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Kế hoạch và đầu tư 
Nhận định về TPP, cơ hội, thách thức dành cho Việt Nam, ông Phạm Mạnh Dũng, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Kế hoạch và đầu tư cho biết: “Nhiều chuyên gia đánh giá việc gia nhập TPP và EVFTA thì nước được hưởng lợi nhiều nhất là Việt Nam, nhưng theo tôi, điều cần quan tâm hơn là nó đang đòi hỏi chúng ta phải thay đổi, hoàn thiện hệ thống pháp luật hơn bao giờ hết”. 
Ông Dũng cho rằng để hoàn thiện luật pháp, chúng ta cần có những quy định mang tính cụ thể, bao gồm cả những quy định của địa phương liên quan tới thuế, cấp đất, cấp Giấp chứng nhận đầu tư FDI. “Chúng ta cần rà soát hiệp định TPP và các EVFTA theo chiều ngang, để xem quy định của nó thế nào, có tương thích với luật Việt Nam không, và ngược lại”. 
Ônh Dũng nhấn mạnh, những quy định trong từng bộ ngành của Việt Nam luôn tạo ra rào cản liên quan tới đầu tư nước ngoài, ví dụ như trong Nghị định 73 về đầu tư trong lĩnh vực giáo dục áp dụng cho doanh nghiệp FDI có quy định rất nhiều giấy phép. Hay có quy định nếu doanh nghiệp đầu tư 20 năm trở lên phải xây trường, cần xin UBND cấp đất để xây dựng trường, rõ ràng quy định đó là thừa, vì doanh nghiệp không phải nhà đầu tư bất động sản, trong khi quỹ đất rất khó tiếp cận, ở xa. “Tương tự, không ít các rào cản đang tồn tại trong hệ thống ở Việt Nam”, ông Dũng cho biết. 
Nhận xét về hiệp định TPP và EVFTA, luật sư Đinh Ánh Tuyết, trọng tài viên quốc tế VIAC cho biết, điều quan trọng ở đây là cam kết của Chính phủ Việt Nam dành cho Chính phủ nước khác và người thụ hưởng là nhà đầu tư nước ngoài tham gia TPP. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nhà nước Việt Nam không thể áp dụng cho các nhà đầu tư nước ngoài khác hoặc chính nhà đầu tư tại Việt Nam, chỉ là chính sách pháp luật Việt Nam có muốn áp dụng tương tự hay không thôi.
"Qua trao đổi với các nhà đầu tư nước ngoài, hay tại các cuộc hội thảo ở địa phương, tôi thấy dường như các địa phương đều nghĩ mình không phải là chủ thể thực thi các FTA theo chức năng của nhà nước. Ví dụ doanh nghiệp phải có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của FTA, nhưng họ lại dễ rơi vào tình huống vi phạm mà không biết và đồng thời không có ý thức về nghĩa vụ mình phải thực hiện", bà Tuyết đánh giá. 

NGUYỄN THOAN