Công nghệ bảo quản Nhật: Sở hăm hở, nhà vườn...“không rõ“

Thành Luân

08:13 03/07/2015

(Khoa học) - Trong khi lãnh đạo Sở KHCN quyết ứng dụng công nghệ CAS thì đơn vị được cho là sẽ trực tiếp sử dụng công nghệ này không hề biết gì.

Công nghệ bảo quản Nhật: Sở hăm hở, nhà vườn...“không rõ“

Ảnh minh họa.

Liên quan đến công nghệ bảo quản bảo quản nông sản, thực phẩm hiện đại CAS của Nhật Bản, ngày 30/6, trao đổi với Đất Việt, ông Nguyễn Đức Kiên, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ (KHCN) Bắc Giang cho biết, Bộ trưởng KHCN đã đồng ý chuyển công nghệ CAS cho tỉnh Bắc Giang. Tuy nhiên, hiện nay tỉnh mới đang xây dựng đề xuất, sau đó phải thông qua hội đồng cấp nhà nước và rất nhiều thủ tục khác mới có thể ứng dụng công nghệ vào bảo quản vải thiều sau thu hoạch.

"Quan trọng nhất là phải phối hợp để tiêu thụ vải thiều cho bà con nông dân. Chúng tôi đã phối hợp với Viện Nghiên cứu và phát triển vùng (Bộ KHCN) tương đối tốt, năm ngoái xuất khẩu được 10 tấn vải thiều bảo quản bằng công nghệ CAS sang Nhật Bản. Chúng tôi cũng vừa cùng Viện bảo quản 5 tấn vải thiều theo công nghệ này để sau khi hết mùa vải, vẫn còn hàng để cung cấp cho nước nào đó hoặc phục vụ hàng không.

Đặc biệt, tháng 6 vừa qua, Công ty Cổ phần Tiến bộ Quốc tế (AIC) đã ký kết hợp đồng tiêu thụ 1.000 tấn vải tại thị trường nước ngoài với tỉnh Bắc Giang. AIC cũng phối hợp với Viện Nghiên cứu và phát triển vùng bảo quản vải thiều bằng công nghệ CAS, với số lượng khoảng vài chục tấn".

Trước thông tin chi phí để trang bị hệ thống bảo quản CAS rất đắt đỏ, hiện chỉ có Viện Nghiên cứu và Phát triển vùng có máy bảo quản CAS với giá lên tới 20 tỷ đồng, công suất 100kg/giờ, mỗi ngày bảo quản được khoảng 1 tấn vải thiều, Giám đốc Sở KHCN Bắc Giang thông tin, sau khi tỉnh nhận chuyển giao công nghệ CAS sẽ nâng công suất bảo quản lên 1 tấn/giờ, mỗi ngày làm 24 tấn, hoàn toàn có thể hỗ trợ tốt cho bà con nông dân trong việc xuất khẩu vải.

"Công nghệ CAS chỉ áp dụng cho trái cây xuất khẩu sang Nhật, còn Úc, Mỹ lại yêu cầu trái cây phải chiếu xạ trước khi nhập khẩu vào nước họ. Tuy nhiên, không hề lãng phí khi trang bị máy bảo quản CAS.

Đối với thị trường Nhật Bản, cứ tính trung bình 320.000 đồng/kg vải, trừ chi phí đi, tính lãi được 70.000-100.000 đồng/kg. Đầu tư thì Nhà nước và nhân dân cùng làm. Đối với dự án này, Bộ KHCN cũng như tỉnh Bắc Giang sẽ hỗ trợ vào cùng với vốn của doanh nghiệp. Tôi nghĩ đầu tư khoảng hơn 20 tỷ đồng mà bảo quản không chỉ trong vụ vải thiều 2 tháng mà cả năm, hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều. Chúng ta có thể xuất khẩu quanh năm mà giá trái cây trái mùa bao giờ cũng cao hơn.

Không phải vấn đề công nghệ đắt mà đây là sân chơi quốc tế, Việt Nam đã hội nhập, cứ chê giá cả cao rồi không chơi thì sẽ bị ra ngoài. Chúng ta không thể cứ nói lý thuyết nâng cao công nghệ mà thực tiễn không dám làm. Muốn hội nhập phải có những công nghệ cao như thế này. Còn về giá thành, hiệu quả ra sao doanh nghiệp sẽ phải làm, họ phải tính toán được thì mới mua máy", ông Kiên nói.

Giám đốc Sở KHCN Bắc Giang tiết lộ, hiện trên địa bàn tỉnh đã có doanh nghiệp đồng ý áp dụng công nghệ CAS và đang chuẩn bị các kho lạnh, đó là Hợp tác xã Bình Minh (xã Hồng Thái, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang).

Chỉ là...trên giấy?

Tuy nhiên, khi hỏi ông Thân Văn Bình, Chủ nhiệm Hợp tác xã Bình Minh ở xã Hồng Thái, huyện Việt Yên về việc ứng dụng công nghệ CAS vào bảo quản vải thiều thì ông này nói rằng "không rõ".

"Hiện nay chưa có gì cả. Chương trình đến đâu phải hỏi đầu nguồn, phía Sở KHCN và Viện Nghiên cứu và Phát triển vùng, chúng tôi là đơn vị cuối nguồn không có thông tin", ông Bình nói.

Trong khi đó, ở vùng nguyên liệu nổi tiếng - Lục Ngạn, ông Nguyễn Văn Thạch, Chủ nhiệm hợp tác xã Bình Minh (xã Nam Dương) cho biết, hiện tại các hộ nông dân ở đây chỉ thu hoạch vải, loại hết quả hỏng, nhúng vào nước đá ngâm vài phút cho lạnh, bỏ vào thùng xốp rồi tiếp tục bỏ nước đá bọc trong túi ni long ở giữa, xếp vải xung quanh để giữ tươi. Vải sau đó sẽ được gửi vào TP.HCM để doanh nghiệp chiếu xạ rồi xuất khẩu.

"Về công nghệ CAS mà người ta cứ nói trên báo đài là cho vào kho lạnh để thế nọ thế kia, âm bao nhiêu độ, trường hợp này chỉ là trên giấy. Thực ra kho lạnh có phải giữ được vải đâu? Chúng tôi cũng đang tìm hỗ trợ để xây dựng kho lạnh nhưng nếu đưa vải vào kho lạnh sau đó lấy ra mà không bảo quản tiếp thì quả sẽ bị thâm ngay. Do đó, bây giờ chúng tôi thu hoạch vải đến đâu là tiêu thụ đến đó, còn giữ lạnh thế kia thì có mà chết à?!".

Ông Thạch nói thêm, Hợp tác xã Bình Minh sản xuất vải thiều theo chương trình VietGAP, nông dân làm theo đúng hướng dẫn về khoa học công nghệ, từ cách phun thuốc, bón phân đến phòng trừ sâu bệnh, kể cả làm cỏ cho vườn cũng tuân thủ theo đúng hướng dẫn. Tuy nhiên, về phần bảo quản sau thu hoạch thì các hộ nông dân không nắm được, họ chỉ biết đến khâu thu hoạch là xong, còn sau thu hoạch bảo quản thế nào là do Sở KHCN, Bộ KHCN và các doanh nghiệp kết hợp xử lý.

"Ở nước ngoài có điều kiện chứ như ở chỗ chúng tôi bây giờ nói xây dựng kho lạnh mà điện đóm có ngày mất đến cả chục lần thì kho "giời" cũng chịu! Trên vùng núi, gió mạnh đã mất điện, chưa nói gì đến bão. Ngày thường nắng nóng thế này thi thoảng trạm biến áp còn nổ đùm đụp như pháo. Vì thế việc áp dụng phương pháp bảo quản hiện đại chỉ là trên giấy, chứ thực tế chưa ai dám làm. Mấy trăm tấn vải mà bảo quản trong tình trạng điện đóm như thế thì chết luôn, tiền chứ có phải là giấy đâu. Bây giờ chúng tôi vẫn đóng thùng đến đâu chuyển đi đến đấy.

Chưa kể trang bị máy móc toàn tiền tỷ, còn mình bán quả vải may thì được vài trăm triệu, bỏ tiền tỷ đầu tư mà không có sự hỗ trợ của quốc gia thì chết. Hiện mỗi cân vải trồng theo chương trình VietGAP bán được 27.000-28.000 đồng/kg, còn vải thường chỉ có 5.000-6.000 đồng/kg, có người còn chở vải quay về vì không bán được. Vì thế, nếu muốn bảo quản bằng công nghệ cao thì phải có sự chung tay của các doanh nghiệp chứ một mình nông dân chúng tôi không làm được", ông Thạch tâm sự.

Theo Báo Đất Việt