BizTALK: “30 năm lan toả vốn FDI”

BizLIVE

15:42 06/10/2017

BizLIVE - Để đánh giá đúng về tác động lan tỏa của FDI, BizLIVE tổ chức BizTALK “30 năm lan tỏa vốn FDI” tại trung tâm hội nghị FLC Vĩnh Thịnh - tỉnh Vĩnh Phúc.

BizTALK: “30 năm lan toả vốn FDI”

Toàn cảnh tọa đàm "30 năm lan tỏa vốn FDI". Ảnh: Quang Sơn

Cuối năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội thông qua. Thời điểm bấy giờ nước ta còn đang trong giai đoạn vô cùng khó khăn vì vòng xoáy cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, sản xuất và lưu thông chậm phát triển.
Khoảng thời gian đầu sau khi luật ra đời, từ 1988 - 1990, FDI chưa tác động rõ rệt đến tình hình kinh tế - xã hội nước ta. Nhưng đến nay, sau gần 30 năm “đón” vốn FDI, nước ta đã có hơn 23.000 dự án FDI với tổng số vốn đăng ký trên 300 tỷ USD, trong đó tổng số vốn thực hiện đạt khoảng 161 tỷ USD.
FDI đã góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển, giải quyết việc làm, tăng thu ngân sách, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và tiến trình hội nhập quốc tế của nước ta. Đáng chú ý, khu vực FDI hiện chiếm đến 72% kim ngạch xuất khẩu. 
Đó là những đóng góp không thể phủ nhận đối với FDI. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công, hoạt động FDI cũng đã bộc lộ những mặt hạn chế, như chưa phù hợp với quy hoạch phát triển ngành và vùng kinh tế, một số máy móc thiết bị công nghệ lạc hậu đã được nhập khẩu, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, nghi án chuyển giá… 
Theo đánh giá chung, tác động lan tỏa của FDI đối với khu vực kinh tế trong nước còn hạn chế và chưa đạt được như kỳ vọng. 
Để đánh giá đúng về tác động lan tỏa của FDI, BizLIVE tổ chức BizTALK “30 năm lan tỏa vốn FDI” tại trung tâm hội nghị FLC Vĩnh Thịnh - tỉnh Vĩnh Phúc.
Khách mời là đại diện các cơ quan quản lý, các chuyên gia kinh tế uy tín và đại diện các tổ chức, doanh nghiệp FDI uy tín, bao gồm:
   - Ông Nguyễn Mại - Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE)
   - Ông Lê Duy Thành - Phó Chủ tịch tỉnh Vĩnh Phúc
   - Bà Nguyễn Thị Tuệ Anh - Phó Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM)
   - Ông Đặng Xuân Quang - Phó cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài
   - Ông Phan Hữu Thắng - nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài
   - Ông Đậu Anh Tuấn – Trưởng ban Pháp chế Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)
   - Ông Lương Văn Khôi – Phó giám đốc Trung tâm thông tin dự báo Quốc gia
   - Ông Nguyễn Đức Tài – Phó giám đốc Sở kế hoạch – Đầu tư tỉnh Vĩnh Phúc
   - Ông Bang Hyun Woo - Phó tổng giám đốc Samsung Vietnam
   - Ông Phạm Anh Tuấn - Tổng trưởng Ban Kế hoạch chiến lược của Toyota Việt Nam (TMV)
   - Ông Nguyễn Thanh Chính – Phó ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc
   - Ông Nguyễn Văn Hòa - Trợ lý Phòng Kinh tế Đại sứ quán Mỹ
   - Bà Almut Roessner - Giám đốc điều hành EuroCham
   - Bà Phạm Thu Thủy - Đại diện Tập đoàn ABB tại Việt Nam
       
-------
Ông Nguyễn Anh Tuấn – Tổng biên tập BizLIVE phát biểu khai mạc cho biết, trong số các nước đã đầu tư vào Việt Nam, Hàn Quốc đang dẫn đầu, Nhật Bản đang ở vị trí thứ hai. Trong đó, lĩnh vực chế tạo đang dẫn đầu về thu hút vốn nước ngoài, sau đó là bất động sản.
Đầu tư nước ngoài đã có ở mọi tỉnh trên cả nước, dẫn đầu là TP.HCM. Những năm gần đây là Quảng Ninh, Thái Nguyên đang dần trở thành những địa phương thu hút đầu tư.
Trong 30 năm qua, các doanh nghiệp FDI đã góp phần quan trọng bổ sung nguồn vốn cho nền kinh tế, khoảng 20-25% GDP, tạo ra 3,7 triệu lao động trực tiếp, đóng góp trên 15% thu ngân sách. 
Sự có mặt của các doanh nghiệp FDI giúp thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước nâng cao năng lực quản trị, sức cạnh tranh, đồng thời thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, nhóm doanh nghiệp này cũng có một số hạn chế, thậm chí là tiêu cực, như vấn đề ô nhiễm môi trường, chuyển giá, vốn thực hiện thấp hơn rất nhiều so với vốn đăng ký, sử dụng tài nguyên lãng phí...
Một số chuyên gia còn cho rằng, tại Việt Nam, đang hình thành 2 nền kinh tế trong một quốc gia. Tuy vậy, tại buổi toạ đàm hôm nay, các chuyên gia sẽ tập trung sâu vào một vấn đề, đó là tác động lan toả của FDI trong 30 năm qua.
Chúng tôi tin rằng, sự có mặt của các chuyên gia giàu kinh nghiệm, đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp FDI, chúng ta sẽ có đánh giá về hoạt động đầu tư, những hạn chế còn tồn tại để gia tăng hiệu quả, nâng cao giá trị của các doanh nghiệp trong chuỗi giá trị toàn cầu.
"Nhược điểm chính của FDI hiện nay chính là tác động lan toả"

GS. TSKH Nguyễn Mại - Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE): Tôi chỉ giới thiệu một số liệu thôi để thấy được tác động FDI vào Vĩnh Phúc. Tỉnh Vĩnh Phúc cách đây mấy năm thu ngân sách nhà nước chỉ khoảng 100 tỷ đồng nhưng tới năm ngoái thì đã đạt 33.300 tỷ đồng. Trong đó, FDI đóng vai trò quan trọng. 

Không chỉ đóng góp cho ngân sách mà FDI còn thay đổi bộ mặt thành phố và nông thôn, không phải là tỉnh nào cũng được như vậy. Ở miền Bắc ngoài Vĩnh Phúc có Bắc Ninh và Thái Nguyên đều có những thay đổi rất nhanh chóng trong những năm trở lại đây. 

Ở miền Nam có Bình Dương, 75% giá trị sản xuất công nghiệp là FDI, 85% kim ngạch xuất khẩu là FDI. Bây giờ họ đã nghĩ đến trở thành phố thông minh. Ngoài ra, cũng có khoảng 9-10 địa phương trên cả nước có những bước phát triển nhanh hơn nhiều so với địa phương khác.

Tuy vậy, nhược điểm chính của FDI hiện nay chúng ta nói đến chính là tác động lan toả.

Tôi xin nói 3 điểm: thứ nhất hiệu ứng về các ngành mới, nghề mới, công nghệ mới của các doanh nghiệp FDI là rất lớn. Có những ngành đã có công nghệ tiên tiến so với thế giới như dầu khí, điện tử, viễn thông. 

Vài chục năm trước, viễn thông Việt Nam là lạc hậu nhất, giá cao nhất, chi phí đắt nhất. Do đó, người tiêu dùng được sử dụng ít nhất, giá cước lại cao nhất. Nhưng lúc này người dùng Việt Nam đã được sử dụng như nước ngoài, thậm chí rẻ hơn.

Hay hiện nay nổi lên những phong cách tiêu dùng mới. Ví dụ hàng hoá Việt Nam trước đây bị coi là ban đầu tốt, sau đó kém đi. Nhưng lúc này yếu tố về chất lượng, giá cả và thị hiếu người dùng được chú ý hơn.

Tác động thứ 3 đó là dân cư được hưởng thụ phương pháp bán buôn, bán lẻ tiên tiến.

Khi chúng ta nói đến lan toả thì cần phải nhìn bao quát, đặc biệt là trong chuỗi giá trị toàn cầu.

 GS. TSKH Nguyễn Mại - Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE). Ảnh: Quang Sơn

Tại Việt Nam, tác động lan toả chưa được như kỳ vọng, thể hiện trong việc các doanh nghiệp Việt Nam vẫn hạn chế trong việc tham gia trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong chuỗi này bao gồm 5 cá thể là nhà cung cấp, nhà chế biến, nhà cung ứng, nhà kho và khách hàng. Tất cả chuỗi này đều có chi phí.

Trong chuối cung ứng toàn cầu, như vấn đề xuất khẩu sang Mỹ của khối ASEAN. Nếu như năm 2010 Việt Nam chỉ đứng thứ 6 trong khối ASEAN thì đến năm 2014 đã vươn lên đứng đầu, chiếm 22% tổng xuất khẩu sang Mỹ của khối.

Trong xuất khẩu, Việt Nam chiếm 4% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn thế giới. Đứng đầu là xuất khẩu hồ tiêu, cà phê, dệt may và hiện đã trở thành cứ điểm sản xuất điện thoại di động thông minh, máy tính bảng.

Tuy nhiên, theo đánh giá chung của các nhà kinh tế, có 21% doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, trong khi đó ở Thái Lan tỷ lệ này là 30%, ở Malaysia là 46% . Như vậy, chúng ta kém xa các nước xung quanh chúng ta về mặt này. 

Những điển hình của Việt Nam trong chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu. Có 2 đầu: giá trị gia tăng cao và giá trị gia tăng thấp.

Đầu giá trị gia tăng thấp là dệt, lụa, thiết kế. Đầu cuối với giá trị gia tăng cao là tiêu thụ thì các doanh nghiệp FDI chiếm gần như toàn bộ. Các doanh nghiệp Việt Nam làm các khâu có giá trị gia tăng thấp là may. Như vậy giá trị gia tăng chung của ngành dệt may chỉ đạt 15% kim ngạch.

Ngành da giày cũng vậy. Các doanh nghiệp Việt Nam chỉ sản xuất, còn khâu tiêu thụ, marketing vẫn thuộc về các doanh nghiệp nước ngoài. Tuy vậy khi nhìn vào giá trị toàn cầu, khi nhìn vào những con số này tôi muốn nói đến một số vấn đề.

Một là, công nghiệp cơ khí. Ví dụ xe máy có sản lượng 3 triệu xe/năm, tỷ lệ nội địa hoá trên 80% và đã có xe máy “Made in Việt Nam”. Chính phủ trước đây cũng có chiến lược ô tô, nhưng tỷ lệ nội địa hoá của ngành này hiện còn thấp. Đây là 2 ý để đối chiếu tại sao xe máy nội địa hoá là 80% còn ô tô chỉ khoảng 10%. Như vậy làm thế nào để thích ứng công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam là một vấn đề của tác động lan toả.

Để làm rõ liệu Việt Nam có khả năng phát triển hơn nữa công nghiệp phụ trợ và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu hay không, tôi xin nêu ở đây 3 kinh nghiệm.

Kinh nghiệm thứ nhất là từ Samsung. Đây là một trong những doanh nghiệp FDI lớn nhất tại Việt Nam với số vốn đăng ký lên tới 17 tỷ USD. Kinh nghiệm của Samsung là có chiến lược hợp tác với các doanh nghiệp Việt để phát triển mạng lưới công nghiệp phụ trợ. 

Chiến lược này tạo ra điều kiện giúp Samsung chọn được những doanh nghiệp Việt có khả năng đáp ứng đủ các điều kiện. Samsung sau đó sẽ cử chuyên gia đến các doanh nghiệp, làm việc với họ khoảng 3 tháng, các doanh nghiệp này sau đó được nhận tư vấn của Samsung về công nghệ, quản trị doanh nghiệp...

Do vậy, không chỉ về công nghệ mà doanh nghiệp Việt cũng nâng được quản trị lên, thay đổi cơ bản để đáp ứng tiêu chuẩn của Samsung.

Trước đây phải loay hoay mãi tìm doanh nghiệp hỗ trợ mà mãi tới năm 2015 cũng chỉ có 87 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ cho Samsung, trong đó 80 là của Hàn Quốc; 7 là của Việt Nam nhưng chủ yếu là bao bì, nhựa rẻ tiền... Nhưng tới năm 2016, Samsung mở rộng đầu tư hơn. Theo công bố của Samsung là hơn 200 DN tham gia, trong đó 25 doanh nghiệp hỗ trợ cấp 1 còn lại là cấp 2 và cấp 3.

Kinh nghiệm thứ hai là kinh nghiệm của Vinamilk. Vốn là một DNNN, từ khi đổi mới chuyển sang công ty cổ phần, từ chỗ chỉ có sản xuất trong nước, mua sữa bột và quấy thành sữa nước thì  sau cổ phần hóa, Vinamilk đã phát triển rất mạnh. Năm nay Vinamilk có thể đạt doanh thu tới 3 tỷ USD, và có 10 trang trại chăn nuôi.

Vinamilk hiện đã sản xuất được khoảng 800 triệu lít sữa/năm, và có 3 nhà máy ở nước ngoài, giá trị gia tăng tăng 14,5%. Vinamilk hiện nay không chỉ cung ứng cho thị trường trong nước mà còn xuất khẩu.

Sơ đồ sản xuất cho thấy Vinamilk bắt đầu tư các trang trại. Các hộ nông dân không tốn nhiều vốn lắm nhưng có thể nuôi bò. Vinamilk mua sữa, chế biến và đưa tới khách hàng.

Kinh nghiệm thứ 3 là mô hình Vingroup. Cách đây 2 năm Vingroup nhảy vào thị trường bán lẻ và triển khai rất nhanh. Đây cũng là lúc các doanh nghiệp Thái mua các siêu thị như BigC. Lúc này họ ép các doanh nghiệp Việt Nam phải chiết khấu cao để có thể đưa sản phẩm vào siêu thị của họ.

Lúc này Vingroup làm một mô hình khác là liên kết với các hợp tác xã, để họ đưa sản phẩm vào các cửa hàng của Vingroup. Họ còn triển khai chính sách không chiết khấu trong thời gian dài hoặc không phải chiết khấu trong thời gian đầu, từ đó các hợp tác xã nhận thấy lợi ích khi hợp tác với Vingroup.

Có 4 trách nhiệm mà chúng ta cần đề cập đến khi bàn về lan toả.

Trách nhiệm thứ nhất là thuộc về doanh nghiệp Việt Nam. Tôi đã tiếp xúc với nhiều giám đốc làm cho doanh nghiệp Nhật, Mỹ, và Hàn Quốc. Theo họ, muốn thành công thì cần có 2 yếu tố, thứ nhất là tự tin. Các doanh nghiệp Việt hay tự ti, mà muốn làm được thì cần phải tự tin. Thứ hai là phải chủ động, chủ động tìm kiếm đối tác để tham gia vào chuỗi toàn cầu.
Thứ hai là phải có chiến lược phát triển, thích ứng với các yêu cầu của các tập đoàn nước ngoài.
Thứ ba là luôn đổi mới, nâng cao trình độ để đáp ứng các yêu cầu.

Thứ tư, trong bối cảnh mở cửa hiện nay, Chính phủ cũng cần đề cao hơn nữa vai trò của hiệp hội. Một số hiệp hội có vai trò rất tích cực hiện nay. Nhà nước qua hiệp hội có thể gắn kết các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài với nhau.

Tôi có rất nhiều lần trao đổi với lãnh đạo Samsung, họ nhấn mạnh là họ muốn trở thành một doanh nghiệp Việt Nam. Tôi nói là nếu anh hợp tác với các doanh nghiệp bản địa thì sẽ tiết kiệm chi phí hơn rất nhiều. Các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước đều cần chủ động hơn trong hợp tác để nâng tầm hợp tác lên.

Nhân dịp kỷ niệm 30 năm lần này, tôi cũng lưu ý chính phủ về tác động lan toả. Chính sách với các doanh nghiệp trong nước làm việc với các doanh nghiệp nước ngoài. Từng có đề xuất những xí nghiệp trong nước làm việc với doanh nghiệp nước ngoài cũng được ưu đãi.

Ngoài ra cần phải điều chỉnh chính sách đầu tư. Từ đầu năm tới nay có nhiều dự án đầu tư nước ngoài có quy mô rất nhỏ mà vẫn được cấp phép. Trong khi các doanh nghiệp Việt Nam cũng đảm đương được.

Tôi tin tưởng nếu chúng ta có chính sách đúng, có nhiều doanh nghiệp FDI như Samsung, thì Việt Nam không chỉ được đầu tư, có công nghệ mà còn có thể đạt được mục tiêu của Trung ương Đảng là có 2 triệu doanh nghiệp với phần lớn sẽ là các doanh nghiệp tư nhân.

Samsung: Hy vọng các chính sách thân thiện về FDI sẽ tiếp tục được duy trì

Ông Bang Hyun Woo - Phó tổng giám đốc Samsung Vietnam: Mỗi khi nhắc tới các doanh nghiệp FDI, có câu hỏi đặt ra là các doanh nghiệp đánh giá như thế nào về môi trường kinh doanh tại Việt Nam.

Chúng tôi đánh giá rất cao các chính sách của Chính phủ Việt Nam, nỗ lực thu hút đầu tư của Chính phủ cũng như của chính quyền địa phương. So với các nước khác trong khu vực, Việt Nam có cơ sở hạ tầng thuận lợi, là nước có sức cạnh tranh khá tốt.

 Ông Bang Hyun Woo - Phó tổng giám đốc Samsung Vietnam. Ảnh: Quang Sơn

Samsung bắt đầu đầu tư vào Việt Nam từ năm 1995 với một nhà máy nhỏ ở TP.HCM. Trong quá trình phát triển, chúng tôi đúc rút ra kinh nghiệm là để có thể phát triển, các doanh nghiệp FDI cần có sự hỗ trợ về chính sách của Chính phủ và sự tin yêu của người dân.

Chúng tôi nghĩ những chính sách này không chỉ dành riêng cho các doanh nghiệp FDI mà còn có các chính sách tương tự cho doanh nghiệp nội địa. Hy vọng các chính sách thân thiện này sẽ tiếp tục được duy trì trong tương lai.

Nói thêm về quan hệ hợp tác giữa Samsung và các doanh nghiệp Việt Nam, tôi xin đưa ra một vài con số. Ba năm trước chúng tôi chỉ có 4 doanh nghiệp cung cấp (vendor) cấp 1. Đến nay chúng tôi đã có 25 doanh nghiệp và cuối năm nay là 29 doanh nghiệp cấp 1. Đây là các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm cho Samsung. 
Có thể bình thường mọi người Việt Nam nghĩ đến Việt Nam là các doanh nghiệp cấp 1, nhưng tôi muốn nói trong chuỗi cung ứng của Samsung thì còn rất nhiều các doanh nghiệp cấp 2, cấp 3, cung cấp sản phẩm gián tiếp. Chúng tôi đã hình thành một hệ sinh thái cung cấp sản phẩm tại Việt Nam. 
Như GS. Nguyễn Mại đã nói, Samsung không phải lớn mà là rất lớn, nên muốn trở thành nhà cung cấp của chúng tôi phải đạt được một số điều kiện. Chúng tôi vẫn phải tự đi tìm các doanh nghiệp Việt Nam để trở thành nhà cung cấp cho mình. Chúng tôi mong các doanh nghiệp Việt Nam có thể tự tin hơn để trở thành nhà cung cấp cho chúng tôi. Hy vọng họ có thể vượt qua các điều kiện về vốn, quy mô để đạt được các điều kiện để tham gia vào chuỗi cung ứng của Samsung.
Tôi trước khi đến đây đã nhận được rất nhiều câu hỏi làm thế nào để doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia trong chuỗi cung ứng của Samsung, trở thành thành viên của Samsung Electronics. Samsung đã và đang đóng góp rất lớn vào tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam, khoảng 20% tổng kim ngạch. 
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam khi tham gia vào chuỗi cung ứng là một điều vô cùng khó khăn. Sản phẩm của Samsung hiện nay cũng được xuất khẩu nhiều nơi trên toàn cầu, tất cả các linh kiện mà chúng tôi nhập thì cần sự tin tưởng và chất lượng vô cùng cao. Để doanh nghiệp nội địa có thể đáp ứng được là một bài toán không hề đơn giản.

Vậy làm thế nào để phát triển hơn nữa mối quan hệ giữa Samsung và các doanh nghiệp trong nước?

Tôi cho rằng, các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam không nên tham vọng làm vendor cấp 1 của Samsung mà trước tiên, hãy làm vendor cấp 2, cấp 3. Sau một thời gian tích luỹ kinh nghiệm, chất lượng, thì doanh nghiệp sẽ có đủ tự tin hơn để trở thành vendor cấp 1 của Samsung.

Chúng tôi cũng có một số kiến nghị và đề xuất đối với Chính phủ nếu có thể.

Samsung là nhà đầu tư lớn tại Việt Nam, có lượng xuất khẩu lớn ra thị trường nước ngoài. Trong thời gian qua, chúng tôi đã nhận được nỗ lực quý báu của Chính phủ Việt Nam, đã tạo điều kiện cho Samsung phát triển.

Tuy nhiên, một số vấn đề vướng phải là điều kiện liên quan đến giao dịch. Việt Nam vẫn chưa được công nhận rộng rãi là nền kinh tế định hướng thị trường. Do đó, đôi khi điều này làm mất lợi thế riêng của mình. Chúng tôi hy vọng Việt Nam sẽ được thừa nhận là nền kinh tế theo định hướng thị trường trong một tương lai gần.

Khi mà chúng ta có thể cải thiện những điều kiện liên quan đến giao dịch này thì sản phẩm của Việt Nam sẽ vươn xa hơn trên thị trường thế giới.

Lúc trước GS. Nguyễn Mại có nói Samsung muốn trở thành doanh nghiệp Việt Nam. Nhưng xa hơn chúng tôi muốn trở thành một doanh nghiệp được yêu mến, tôn trọng, và trở thành doanh nghiệp mà các bạn trẻ Việt Nam muốn làm việc. Chúng tôi sẽ cống hiến nhiều hơn cho cộng đồng.

Năng suất FDI có lan toả vào khu vực trong nước không?

Bà Nguyễn Thị Tuệ Anh - Phó Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM): Những đóng góp FDI rất nhiều rồi và chúng ta cũng đã khẳng định vai trò của FDI trong nền kinh tế.

Vậy doanh nghiệp FDI ở Việt Nam đem lại lợi gì ngoài những gì chúng ta nhìn thấy được như đóng góp ngân sách, tăng trưởng…? Nhưng ngoài những cái đó thì vấn đề sau đó cái người ta quan tâm là tác động lan toả chiều sâu của FDI đến khu vực trong nước, tức là sau khi họ đi sẽ để lại những cái gì?

Bà Nguyễn Thị Tuệ Anh - Phó Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương. Ảnh: Quang Sơn

Tác động lan toả đầu tiên liên quan rất nhiều đến tăng trưởng GDP trong thời gian tới. Tăng trưởng GDP đang thấp dần xuống. Trong cơ cấu GDP, đóng góp của FDI rất lớn, tuy nhiên đóng góp cao không có nghĩa là khu vực này sẽ lan toả vào độ sâu của nền kinh tế. Lan toả ở đây nói nhiều hơn những khoảng cách khác nhau, đó là vấn đề năng suất.

So sánh năng suất lao động của FDI với các khu vực khác, thì khu vực FDI có năng suất cao nhất. Nhưng đối với Việt Nam không phải là vấn đề tăng trưởng kinh tế mà cái sâu xa là tăng năng suất lao động, điều đó mới là cần thiết. Tới đây tăng trưởng kinh tế dựa rất nhiều vào năng suất lao động. Năng suất FDI có lan toả vào khu vực trong nước không? Liệu rằng có chuyển động sang khu vực trong nước không, đó là điều chúng ta quan tâm.

Lan toả với khu vực FDI có một khía cạnh quan trọng là năng suất. Khi so sánh năng suất lao động của khu vực FDI với khu vực khác thì FDI là cao nhất. Tiếp theo đó là năng suất trung bình. Thứ ba là năng suất của khối doanh nghiệp nhà nước và cuối cùng mới là khối doanh nghiệp tư nhân.

Tăng trưởng năng suất lao động mới là cái cần thiết. Tới đây tăng trưởng của Việt Nam phụ thuộc tăng năng suất lao động. Vậy liệu tăng năng suất của FDI có lan toả đến năng suất trong nước hay không, đó là điều chúng ta quan tâm.

Ngoài các đóng góp đã nhìn được của khu vực FDI, nước tiếp nhận các doanh nghiệp FDI cũng mong muốn các doanh nghiệp này phải bén rễ, lan toả vào khu vực trong nước. Điều này có nghĩa việc xuất hiện các doanh nghiệp FDI phải giúp năng lực cạnh, năng suất của các doanh nghiệp trong nước đi lên. Đây cũng là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả của FDI.

Về việc lan toả của FDI, tôi cho rằng có 4 kênh lan toả. Đó là bắt chước học hỏi, di chuyển lao động, chuyển giao kỹ năng, kiến thức, cạnh tranh và chuyển giao công nghệ.

Lấy ví dụ khi một người từng làm ở Toyota sẽ chuyển sang mở một doanh nghiệp mới và có được kỹ thuật của Toyota. Như vậy các doanh nghiệp trong nước có thể nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

Một vấn đề khác của lan toả FDI đó là chuyển giao công nghệ. Chuyển giao trực tiếp thì khó xảy ra nhưng có thể qua những hợp đồng công nghệ.

Ví dụ ở đây là chuyển giao công nghệ là Trường Hải là liên kết xuôi. Thaco mua những vật liệu của công ty mẹ ở nước ngoài, lắp ráp thành xe. Liên kết ngược như Samsung hay Toyota lại mua các sản phẩm của các công ty vendor, các doanh nghiệp cấp 2 cấp 3 để lắp ráp vào sản phẩm của mình.

Trong ngắn hạn, doanh nghiệp trong nước không nhận được tác động lan toả tích cực từ FDI. Nhưng trong dài hạn doanh nghiệp trong nước vẫn nhận được tác động tích cực đến từ nhiều kênh như dịch chuyển lao động có kỹ năng, từ học hỏi công nghệ, cũng như tác động tích cực của cạnh tranh khiến doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn.

Về tác động tích cực từ liên kết ngược, khi FDI tăng, cơ hội cho doanh nghiệp trong nước liên kết cung ứng đầu vào cho doanh nghiệp FDI, qua đó thu được tác động tràn năng suất tích cực nhờ mở rộng quy mô và tăng hiệu quả kỹ thuật, nhưng vẫn chưa nhờ vào tăng công nghệ. Đây là cơ sở để phát triển công nghiệp phụ trợ.

Về tác động tiêu cực của liên kết xuôi, phản ánh doanh nghiệp trong nước rất ít khi mua đầu vào trung gian của doanh nghiệp FDI. Nếu mua được thì sản phẩm của các doanh nghiệp FDI thường có giá cao và doanh nghiệp trong nước chưa nâng cấp công nghệ (khoảng cách công nghệ) để phát huy được các tác động tích cực từ liên kết này.

Câu hỏi khác đặt ra là: FDI có lan toả về mặt không gian hay không? Nếu có thì liên kết xuôi hay ngược?

Có sự liên hệ về mặt không gian giữa các tỉnh về năng suất của các doanh nghiệp trong nước. Cả tác động tích cực từ liên kết ngược và tác động tiêu cực từ liên kết xuôi đều giảm theo khoảng cách địa lý và mật độ doanh nghiệp.

Ở vùng kinh tế trọng điểm tập trung nhiều FDI, doanh nghiệp trong tỉnh này có thể nhận được tác động lan tỏa từ các doanh nghiệp FDI ở tỉnh khác trong vùng. Điều này tạo cơ sở cho việc hình thành cụm ngành.

Vậy doanh nghiệp FDI có lấn át doanh nghiệp tư nhân không? Có lấn át nhưng ở mức độ khác nhau. Có bằng chứng về việc tăng FDI trong cùng ngành, sẽ dẫn đến làm tăng xác suất đóng cửa của doanh nghiệp tư nhân do cạnh tranh gây ra.

Theo tính toán, cứ tăng 1% FDI ở các ngành liên kết xuôi, sẽ làm giảm xác suất đóng cửa của doanh nghiệp tư nhân ở mức 10,5%. Các doanh nghiệp sản xuất cuối cùng của Việt Nam chủ yếu gia công xuất khẩu, nên áp lực cạnh tranh thị phần trong nước thấp, như các doanh nghiệp tư nhân ngành may, da giày… Căn cứ để thu hút FDI cho một lĩnh vực ưu tiên và ưu đãi cho FDI là cung ứng đầu vào cho ngành này. Chúng ta nên phát triển một số doanh nghiệp đủ quy mô lớn như vậy và ưu tiên các doanh nghiệp FDI cung ứng đầu vào cho khu vực doanh nghiệp này.

Cứ tăng 1% FDI ở các ngành liên kết ngược có thể dẫn đến làm tăng xác suất đóng cửa lên 15,4%: bằng chứng về sự yếu kém của doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ trong nước. Cho nên quá nhiều hỗ trợ doanh nghiệp nước ngoài vào đây thì sẽ tăng áp lực lên phát triển doanh nghiệp trong nước.

Tôi xin lấy một số chỉ số báo cáo cạnh tranh toàn cầu để xem một số chỉ số của Việt Nam như thế nào. Thái Lan là quốc gia đang bẫy thu nhập trung bình, Trung Quốc đã thoát ra rồi. Vậy học hỏi kinh nghiệm xem như thế nào.

Tác động lan toả có liên quan đến quy mô doanh nghiệp hay không?

Theo một nghiên cứu của chúng tôi về định lượng thì tác động lan toả có liên quan đến quy mô doanh nghiệp. Như đại diện Samsung có nói, các doanh nghiệp nhỏ không nhận được tác động này. Doanh nghiệp vừa và lớn mới có thể nhận được tác động. Do đó vấn đề là làm sao để doanh nghiệp Việt Nam lớn lên thì sẽ giảm được khoảng cách về công nghệ với các doanh nghiệp lớn và tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI.

Ở góc độ chính sách, tôi rất đồng ý về việc các doanh nghiệp phải chủ động nhưng nếu doanh nghiệp quá nhỏ thì cần có bàn tay của Nhà nước.

Cần phải có liên kết giữa các cơ quan quản lý chính sách và có chính sách liên kết vùng. Đối với vùng xa có thể giúp các vùng này cạnh tranh nhiều hơn.

Có bằng chứng về việc cần hình thành các khu FDI. Ở các cụm này vai trò của các địa phương rất lớn và cần học kinh nghiệm của Trung Quốc.

Chính sách FDI hiện chưa làm tốt vai trò tạo liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước. Do đó cần xây dựng khung chính sách FDI, trong đó cần coi nhiệm vụ tăng năng lực của khu vực doanh nghiệp trong nước, đặc biệt doanh nghiệp tư nhân, là một cấu thành quan trọng của chính sách FDI. Có như vậy mới tăng hiệu quả của FDI (lan tỏa FDI là một tiêu chí đánh giá hiệu quả).

Thu hút FDI cuối cùng là cần hướng đến làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước để khu vực này có thể kết nối được với khu vực FDI, qua đó tham gia vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Chính sách FDI theo vùng: Đối với các vùng phát triển cần tăng cường hợp tác và liên kết vùng trong thu hút và sử dụng FDI.  

Ở các tỉnh xa các trung tâm kinh tế có thể cạnh tranh thu hút FDI; đồng thời tăng cường đầu tư mạng lưới hạ tầng kết nối, rút ngắn khoảng cách địa lý giữa các tỉnh nhằm giúp các doanh nghiệp trong nước không chỉ thu được tác động tràn từ FDI tại chính tỉnh đó mà còn cả từ FDI tại các tỉnh xung quanh.

Thứ ba, hình thành cụm ngành để khai thác tác động lan tỏa của FDI ở một số ngành có dung lượng thị trường lớn (xuất khẩu hoặc tiêu dùng nội địa) và có sự hiện diện của các doanh nghiệp FDI đầu đàn; từ đó phát triển doanh nghiệp sản xuất đầu vào trung gian (công nghiệp hỗ trợ), khuyến khích hoặc ra điều kiện về liên kết sản xuất, chuyển giao công nghệ của doanh nghiệp FDI trong những ngành này cho doanh nghiệp trong nước.

 Thứ tư, rà soát, tái cấu trúc các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm tăng năng lực cạnh tranh và tạo dựng liên kết sản xuất với khu vực FDI: tập trung vào năng lực công nghệ; đào tạo nhân lực; năng lực thực thi hợp đồng; năng lực quản lý đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế.

Thứ năm, định hướng thu hút FDI cần chọn lọc, trong đó cần mở ra cơ hội cho doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi giá trị của ngành/doanh nghiệp FDI và có bước chuẩn bị trước để đón nhận chủ động. Có thể coi cơ hội tham gia vào chuỗi giá trị này là điều kiện để thu hút FDI.

Thứ sáu, cần đặt mục tiêu cải thiện các chỉ số liên quan đến (lan tỏa) FDI để theo dõi và giám sát: Chỉ số về năng lực hấp thụ công nghệ; FDI và chuyển giao công nghệ; số lượng và chất lượng nhà cung ứng nội địa; bề rộng của chuỗi, nhân tài.

Thứ bảy, xem xét lại chính sách phát triển DNNVV: Khuyến khích tăng dần quy mô doanh nghiệp. Doanh nghiệp quy mô nhỏ phải lớn lên để tiếp nhận chuyển giao công nghệ và tác động lan tỏa năng suất.

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Xin các vị chuyên gia cho biết nội hàm của tác động lan toả FDI là cái gì?

GS Nguyễn Mại: Chúng ta biết là năng suất lao động có ảnh hưởng tới kinh tế xã hội. Khi năng suất lao động thấp thì giá trị gia tăng chưa cao.

Ở miền Bắc trong số các tỉnh thì không nơi nào bằng Vĩnh Phúc. Nhưng từ 2008 thì Bắc Ninh trở thành tỉnh thu hút đầu tư nước ngoài mạnh. Khi đó Vĩnh Phúc chuyển sang thu hút đầu tư chất lượng.

“Người nước ngoài làm được thì người Việt Nam cũng làm được”

Ông Lê Duy Thành - Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Vĩnh Phúc: Trước tiên tôi xin khẳng định Vĩnh Phúc có được hôm nay nhờ đầu tư nước ngoài.

Sau 20 năm, đến 2016, Vĩnh Phúc đã đạt thu ngân sách 33 ngàn tỷ, tăng 300 lần so với ban đầu, thu nhập bình quân 70 triệu/người/năm (tương đương 3.200 USD/người/năm), cao hơn mức bình quân của toàn quốc. Thu nội địa nhiều năm chỉ đứng sau Hà Nội. Để có được thành công đó phải có đóng góp của các doanh nghiệp FDI.

 Ông Lê Duy Thành - Phó Chủ tịch UBND Tỉnh Vĩnh Phúc. Ảnh: Quang Sơn

Tỷ trọng của các doanh nghiệp nước ngoài đóng góp vào xuất khẩu đạt trên 95%, sản phẩm “Made in Việt Nam” sản xuất tại Vĩnh Phúc có mặt tại 20 nước trên thế giới.

Có một điều chúng tôi rất tự hào là sang thị trường Mỹ, khi đi mua quần áo thì lại thấy sản phẩm sản xuất tại Vĩnh Phúc. Hàng dệt may sản xuất tại tỉnh rất nhiều. Một sản phẩm khác là ghế ô tô thì toàn bộ chi tiết ghế xe đều sản xuất ở Vĩnh Phúc và xuất khẩu sang Bắc Mỹ.

Nếu nói về tác động lan toả đó chính là đưa sản phẩm ra quốc tế. Ngành nông nghiệp chỉ chiếm tỷ trọng 9% trong cơ cấu kinh tế của Vĩnh Phúc, và công nghiệp là hơn 60%. Tới năm 2010 công nghiệp đã tạo công ăn việc làm cho 33.000 lao động.

Năm 1997, người đóng thuế thu nhập cá nhân ở tỉnh 100% là của người nước ngoài. Nhưng đến nay, tỷ lệ người đóng thuế là 60% đến từ người nước ngoài, 40% của người Việt Nam. Tác động lan toả đã đến từng người Việt Nam chứ không chỉ nhìn chung ở nền kinh tế.

Có một điều nữa mà chúng tôi nhìn thấy đó là tỷ trọng lao động của Vĩnh Phúc. Đến giờ thanh niên không làm nhiều trong khu vực nông nghiệp nữa. Trước đây mức lương phổ biến là 1 đến 2 triệu/tháng, nhưng hiện giờ mức lương 3 triệu/tháng cũng khó tuyển lao động ở Vĩnh Phúc.

Như vậy, người dân bắt đầu được hưởng thành quả đó và các doanh nghiệp nhỏ của Vĩnh Phúc cũng bắt đầu bắt nhịp được. Họ cũng đã có sự quyết tâm. Trước đây cùng lắm chỉ có một vài nhà cung cấp cho doanh nghiệp FDI nhưng chỉ làm thùng bìa thôi. Nhưng mà đến giờ doanh nghiệp tham gia cung ứng cấp 1 thì xuất hiện rất nhiều. Kinh nghiệm, công nghệ doanh nghiệp Việt Nam đã có những thay đổi.

Tuy nhiên cũng phải nhìn lại, đóng góp rất là lớn nhưng hạn chế cũng có.

Chúng tôi chỉ nhìn theo phương diện địa phương. Ở Vĩnh Phúc, nếu cứ tiếp tục thu hút FDI thì sẽ nhìn thấy nền kinh tế không ổn định.

Với việc nhà đầu tư nước ngoài nộp 1 tỷ đồng tiền thuế, họ sẽ bỏ túi 4 tỷ đồng. Doanh nghiệp trong nước cũng vậy. Tuy nhiên, 4 tỷ của doanh nghiệp Việt sẽ vẫn ở lại Việt Nam, nhưng 4 tỷ của nhà đầu tư nước ngoài sẽ được chuyển về nước của họ.

Nếu chúng ta không có cách chăm sóc, có thái độ với FDI thì tính bền vững, việc cải thiện đời sống nhân dân sẽ khó khăn hơn. Chúng tôi đã và đang có rất nhiều chính sách ưu đãi và tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong nước.

Chúng tôi có Nghị quyết 04 cách đây gần 10 năm để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đến nay những chính sách hỗ trợ đã thành luật. Nhưng thực tế các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn còn gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận các ưu đãi.

Các doanh nghiệp Việt Nam có hạn chế về công nghệ, về quy mô, thậm chí còn cạnh tranh không lành mạnh với nhau gây ra hình ảnh xấu trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài.

Một ví dụ nữa ở Vĩnh Phúc là chủ của công ty với khởi điểm của họ là một công nhân tại nhà máy của Đài Loan cung cấp nguyên liệu cho Honda và Toyota. Với tư duy “người nước ngoài làm được thì người Việt Nam cũng làm được”, ông này đã lập doanh nghiệp, cung cấp vật liệu từ doanh nghiệp cấp 2, trở thành cấp 1, đang cung cấp chính cho Honda.

Hôm trước có bài báo viết về hội thảo liên quan tới các doanh nghiệp hỗ trợ cho Samsung. Bài báo có đề cập doanh nghiệp Việt Nam không đủ khả năng là trở thành cung cấp cho doanh nghiệp nước ngoài.

Một chủ doanh nghiệp ở Vĩnh Phúc nói với tôi rằng, không có cái gì doanh nghiệp Đài Loan làm được, doanh nghiệp Trung Quốc làm được mà doanh nghiệp Việt không làm được. Khi tôi đến doanh nghiệp của anh này thì thấy có tới 20 người Nhật làm thuê cho anh ấy, các doanh nghiệp hoàn toàn có thể làm được. Anh chủ doanh nghiệp này cho rằng vì thiếu tự tin, tự tôn, tinh thần làm chủ, cứ nhìn doanh nghiệp FDI như một cái gì cao siêu lắm… nên doanh nghiệp Việt còn hạn chế. Nhìn thực trạng ở Vĩnh Phúc thì thấy có tình trạng như vậy.

Chúng tôi muốn qua hội thảo đề nghị Nhà nước có chính sách hỗ trợ giúp các doanh nghiệp Việt có cơ hội tiếp cận, có chính sách quy định tỷ lệ nội địa hoá, một số chính sách hỗ trợ về vốn, công nghệ.

Về phía các doanh nghiệp Việt, phải khẳng định quyết tâm, khẳng định người Việt có thể làm được.

Các doanh nghiệp nước ngoài chưa dám chuyển giao cho doanh nghiệp Việt là vì rủi ro quá lớn. Chỉ cần một dây chuyền sản xuất bị lỗi, họ phải thu hồi hàng nghìn sản phẩm và chi phí thiệt hại rất lớn.

Tại sao liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp Việt vẫn còn yếu?

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Tôi muốn nghe ý kiến của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về tác động lan toả của FDI.

Ông Đậu Anh Tuấn - Trưởng ban Pháp chế VCCI: Tôi nghĩ còn một chiều hướng lan toả khác. Đó là ở tỉnh nào có nhiều FDI thì ở đó chất lượng chuyển biến về hành chính ở đó tốt hơn địa phương khác. Quan chức ở đó chuyên nghiệp hơn. Tôi thấy chất lượng dịch vụ công ở các tỉnh đó tốt hơn. Không chỉ doanh nghiệp FDI được hưởng lợi mà còn các doanh nghiệp trong nước cũng hưởng lợi.

Nhưng có 1 con số rất ám ảnh. Cách đây một số năm thì 10 đồng xuất khẩu của Việt Nam thì 5 đồng thuộc về doanh nghiệp FDI, nhưng đến nay con số này là 7,5 đồng. Doanh nghiệp FDI tại VN tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu rất tốt, sự kiện tháng 5 năm 2014 ở Bình Dương một vài doanh nghiệp Đài Loan sản xuất linh kiện bị hư hại nhưng sản xuất xe đạp trên toàn thế giới bị ảnh hưởng nặng nề đã minh chứng điều này.

 Ông Đậu Anh Tuấn - Trưởng ban Pháp chế VCCI. Ảnh: Quang Sơn
Trở lại câu hỏi chính, lan toả giữa khối doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân còn chưa tốt, hàng năm, chúng tôi đều có những cuộc điều tra, trong đó cho thấy, các doanh nghiệp FDI chỉ mua khoảng 26,6% thiết bị, đầu vào từ doanh nghiệp Việt, còn lại là nhập khẩu và nhập từ công ty mẹ.
Tôi đồng quan điểm với nhận định của TS. Nguyễn Thị Tuệ Anh (Phó viện trưởng CIEM –PV) là sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI và trong nước rất khiêm tốn. Dù có chuyển động nhưng rất chậm chạp.
Một lý do khiến lan toả từ FDI sang tư nhân thấp là do loại hình hoạt động, trước đây có nhiều mô hình liên doanh giữa FDI và tư nhân, hiện nay gần như toàn bộ là DN 100% vốn đầu tư nước ngoài. Về phía Việt Nam cũng có một số điểm yếu như tính minh bạch, chất lượng dịch vụ công, hạ tầng còn thấp.
Đáng nói là những doanh nghiệp có giá trị gia tăng cao kết nối với doanh nghiệp trong nước ngày càng hạn chế. Vậy điều gì cản trở? Tôi cho rằng sự liên kết còn yếu do 3 yếu tố. Một là, chất lượng nhân lực chưa đáp ứng. Hai là, trình độ công nghệ và khả năng hấp thụ công nghệ. Ba là, khoảng cách địa lý ảnh hưởng rất lớn.
Vẽ lại biểu đồ nhà máy trong nước và FDI thì thấy ở đâu các doanh nghiệp trong nước với FDI gần nhau hơn thì có sự kết nối nhiều hơn. Còn khoảng cách xa hơn thì ít tương tác hơn. Việt Nam sắp thành lập đặc khu, càng riêng biệt vậy thì sự lan toả của FDI lại càng hạn chế hơn.
Lương FDI trả cho nhân công khoảng 7 đến 8 triệu/người/tháng, doanh nghiệp nhỏ không đủ sức cạnh tranh. Khoảng cách giữa doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI cũng rất lớn và năng lực cạnh tranh cũng rất kém. Do đó, cần có một chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước.
Yếu tố hàng đầu, quan trọng nhất của Việt Nam hấp dẫn với nhà đầu tư nước ngoài là chi phí rẻ. Trong 10 yếu tố hấp dẫn hàng đầu không có yếu tố nào về chất lượng điều hành, chỉ toàn là chi phí rẻ. Nhưng yếu tố chi phí rẻ này sẽ dần mất đi khi chi phí lương tăng lên, đất đai không còn quá sẵn, hết dần, môi trường bị siết chặt lại... Liệu Việt Nam có còn là một điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nữa hay không?

Toyota Vietnam: Tìm kiếm các doanh nghiệp phụ trợ trong nước không phải dễ

Ông Phạm Anh Tuấn - Tổng trưởng Ban Kế hoạch chiến lược của Toyota Việt Nam (TMV): Toyota Việt Nam có khoảng 80% vốn nước ngoài, hoạt động ở Việt Nam được 20 năm. Công nghiệp ô tô xe máy thì thành lập gần như cùng thời điểm nhưng tại sao xe máy nội địa hoá 80% còn ô tô chỉ khoảng 20%?

Điều này có nguyên nhân không chỉ ở vấn đề công nghệ mà còn là sản lượng. Tăng trưởng sản lượng ô tô rất thấp, thấp hơn nhiều xe máy nên rất khó phát triển. Hồi Toyota mới thành lập, sản lượng chỉ là vài chiếc xe một ngày và thời điểm đó thì cũng có rất nhiều doanh nghiệp liên doanh sản xuất ô tô khác.

Ông Phạm Anh Tuấn - Tổng trưởng Ban Kế hoạch chiến lược của Toyota Việt Nam (TMV). Ảnh: Quang Sơn

Đến nay tổng sản lượng ô tô ở Việt Nam đạt 300 nghìn chiếc mỗi năm, trong đó Toyota có khoảng 50 nghìn chiếc và 4 mẫu xe. Sản lượng thấp nên rất khó nội địa hoá. Nội địa hoá không phải là thành tích mà để giảm giá thành.

Chúng ta tăng tỷ lệ nội địa hoá để giảm giá thành. Việt Nam là một nước có dân số đông, do đó chúng tôi thấy được thị trường Việt Nam sẽ rất lớn, người dân không thể đi xe máy mãi. Toyota đã chọn giải pháp tìm kiếm các doanh nghiệp phụ trợ trong nước. Tuy nhiên tìm không phải dễ, mới đây đã có thêm một doanh nghiệp ở nước ngoài tại Việt Nam sản xuất lốp ô tô.

Trong ngành ô tô, nếu sản lượng nhỏ thì dù nội địa hoá, giá vẫn sẽ rất cao. Do đó quan trọng nhất là sản lượng cao thì nội địa hoá mới hiệu quả.

Toyota khi chọn nhà cung cấp không phân biệt đó là doanh nghiệp trong nước hay nước ngoài. Chỉ cần họ đáp ứng chất lượng là sẽ được chọn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cung cấp của Toyota chủ yếu là những doanh nghiệp FDI vốn cung cấp cho Toyota ở nước khác và họ theo vào Việt Nam.

Cũng có xuất hiện những doanh nghiệp Việt Nam như một doanh nghiệp nhựa ở Hà Nội phát triển lên từ việc hỗ trợ công nghiệp cho Honda, sau đó chuyển dần sang làm ô tô. Nhưng rào cản khi làm với doanh nghiệp Việt Nam đầu tiên là chi phí. Vì sản lượng thấp nên họ rất khó cạnh tranh với sản phẩm cùng loại của Thái Lan xuất khẩu sang đây.

Toyota Việt Nam khi phát triển nhà cung cấp, chúng tôi phải chọn lọc rất kỹ lưỡng, đồng thời, phải cử người xuống hỗ trợ doanh nghiệp để đảm bảo chất lượng ổn định, giao hàng đúng hẹn, đảm bảo doanh nghiệp đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường, phát triển bền vững. Các doanh nghiệp tham gia, hợp tác với Toyota được nâng cao năng lực, nhận được nhiều lời mời hợp tác của các đối tác hơn.

Để tạo ra sản phẩm “Made in Vietnam”, phải có chính sách hỗ trợ

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Có một số ngành không thể nội địa hoá được do nhập khẩu rẻ hơn. Vậy nguyên nhân sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt vẫn còn yếu là gì, thưa ông Phan Hữu Thắng? Trong những năm tới như thế nào, việc thu hút bao nhiêu doanh nghiệp FDI là vừa, thu hút vào lĩnh vực nào là vấn đề quan trọng?

Ông Phan Hữu Thắng - nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài: Chúng ta đã nói và bàn quá nhiều nhưng việc thực hiện tất cả những kiến nghị này sẽ như thế nào? Các đơn vị này cần kết hợp với nhau và có tiếng nói chung. Nếu chúng ta cứ thảo luận rồi để trôi qua thì rất là khó. Cứ bàn mãi bàn mãi thì không làm được gì.

Trước hết Nhà nước phải đứng ra, Bộ Kế hoạch và đầu tư làm đầu mối, tổng kết thật sâu 30 năm đầu tư nước ngoài, làm rõ tác động lan toả. Samsung nói năm 2020 cố gắng để có 50 doanh nghiệp Việt làm vendor cấp 1. So sánh với tổng số doanh nghiệp Việt Nam thì con số này là nhỏ. Đừng có trông chờ gì vào việc nhà đầu tư nước ngoài họ mở cửa cho doanh nghiệp Việt nếu doanh nghiệp chúng ta còn vừa yếu vừa thiếu! Họ phải chờ mình lớn lên để chọn lựa.

 Ông Phan Hữu Thắng - nguyên Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài. Ảnh: Quang Sơn

Samsung nói là chờ các doanh nghiệp lớn lên rồi mới chọn lựa. Như vậy là quá khó! Không thể ép một doanh nghiệp như trẻ con 2-3 tuổi trong ngày 1 ngày 2 thành người đủ 18 tuổi lập gia đình. Để giúp cho các doanh nghiệp có năng lực, tạo ra sản phẩm “Made in Vietnam”, phải có những chính sách để hỗ trợ họ.

Ngoài ra một yếu tố khác đó là năng suất. Đó là điều các nhà đầu tư quan tâm.

Các ngành và các địa phương nên chọn ra các doanh nghiệp hàng đầu, đầu tư về đất đai, thuế.

Vai trò nhà nước rất lớn, ngoài việc hoạch định chính sách phải có tác động với cả doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Trước đây chúng ta nói rất nhiều về tỷ lệ nội địa hoá. Trước đây các tập đoàn lớn, họ phải trích một phần lợi nhuận cua mình để hỗ trợ doanh nghiệp địa phương.

Doanh nghiệp trong nước khi tham gia chuỗi cung ứng phải có tinh thần sẵn sàng hợp tác tham gia với doanh nghiệp nước ngoài. Quản lý Nhà nước cũng phải tập trung thúc đẩy cái này. Một doanh nghiệp phải nỗ lực từ từ qua nhiều cấp. Nói như lãnh đạo Samsung không thể làm cấp 1 ngay được, phải từ cấp 3 rồi đến cấp 2 và lên cấp 1.

Doanh nghiệp Việt cũng bỏ cạnh tranh nói xấu nhau đi, mà cần chú trọng năng cao sản phẩm. Phải đáp ứng chất lượng tiêu chuẩn cao chứ không thể bắt họ phải hợp tác với mình được.

Nếu để doanh nghiệp nhỏ và vừa “tự bơi” thì họ sẽ không thể làm được

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Tôi từng biết nhiều gia đình Nhật Bản họ cung cấp lò xo. Nhưng những chiếc lò xo này là loại siêu nhỏ và họ thu lãi rất nhiều. Như vậy nếu các doanh nghiệp kể cả nhỏ nhưng công nghệ tốt thì vẫn phát huy hiệu quả. Vậy tính lan tỏa và liên kết giữa hai khu vực doanh nghiệp trong và ngoài nước đến đâu?

Ông Lương Văn Khôi - Phó giám đốc phụ trách Trung tâm thông tin và dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia: Về FDI có rất nhiều nghiên cứu về tác đông lan toả. Trung tâm của chúng tôi và UNDP đang có một nghiên cứu về hiệu quả và năng suất. Nghiên cứu của tôi lại cho thấy năng suất và hiệu quả của khối FDI thấp hơn khu vực doanh nghiệp nhà nước.

 Ông Lương Văn Khôi - Phó giám đốc phụ trách Trung tâm thông tin và dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia. Ảnh: Quang Sơn

Nếu chúng ta để doanh nghiệp nhỏ và vừa “tự bơi” thì họ sẽ không thể làm được. Nhà nước nên thành lập các trung tâm hỗ trợ họ. Kinh nghiệm của Trung Quốc và Samsung rất hay.

Samsung hỗ trợ doanh nghiệp M&A, làm chủ công nghệ đó. Nếu như vào không đáp ứng yêu cầu thì sẽ bỏ tất cả các khoản ưu đãi. Ở chúng ta hậu kiểm còn lỏng lẻo, hưởng ưư đãi rất nhiều nhưng không đáp ứng được tỷ lệ nội địa hoá. Cần phải xem xét lại vấn đề này. Còn ở Trung Quốc, 70% sản lượng chiếm hàm lượng công nghệ cao. Kể cả rất nhiều nhà máy nhiệt điện than Trung Quốc đóng cửa di chuyển sang nước khác.

Việt Nam hiện có 5 dự án lớn về nhiệt điện than, với tổng vốn đầu tư lên tới 9,1 tỷ USD. Tôi cho rằng, chúng ta cần giám sát việc nhập khẩu thiết bị của các dự án, tránh gây ảnh hưởng tới môi trường.

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Trên thế giới, các tập đoàn có sẵn chuỗi cung ứng từ các nước khác nên họ không cần quan tâm đến các doanh nghiệp tại quốc gia mà họ hoạt động, ý kiến của ông như thế nào?

Ông Lương Văn Khôi: Ở Trung Quốc, tất cả các doanh nghiệp muốn vào quốc gia này đều buộc phải chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước và sử dụng các công ty trong nước. Tôi nghĩ Việt Nam có thể tham khảo.

Việt Nam cần có các giải pháp dài hạn hơn chứ không chỉ là chính sách khuyến khích

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Theo quan điểm của EuroCham, vì sao các doanh nghiệp Việt không thể tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI?

Bà Almut Roessner - Giám đốc điều hành EuroCharm: Chúng tôi đại diện cho 950 thành viên đến từ châu Âu, từ những công ty đa quốc gia đến những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Những dự án của châu Âu vào Việt Nam có cả những dự án lớn và nhỏ. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, chúng tôi cung cấp cho họ những khoá đào tạo và chuyển giao công nghệ, giúp các doanh nghiệp trong nước có thể hiểu nhu cầu của doanh nghiệp châu Âu.

 Bà Almut Roessner - Giám đốc điều hành EuroCharm. Ảnh: Quang Sơn
Ông Matteo Boddi, Giám đốc Phòng Vật tư – Công ty Piaggio Việt Nam, thành viên Hội đồng điều hành của EuroCham: Công ty Piagio là một trong những doanh nghiệp đầu tiên của Ý đầu tư vào tỉnh Vĩnh Phúc.
Bằng những kinh nghiệm thực tiễn, chúng tôi muốn chia sẻ một số ý kiến về mối liên hệ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước.
Thực tế, khi một nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam, họ mang theo kỹ thuật, ý tưởng khác biệt đến. Theo đó, họ cần thiết lập mỗi chuỗi cung ứng riêng, họ muốn làm việc với các doanh nghiệp có chung tư duy.
 Ông Matteo Boddi, Giám đốc Phòng Vật tư – Công ty Piaggio Việt Nam, thành viên Hội đồng điều hành của EuroCham. Ảnh: Quang Sơn
Piagio là một trường hợp đặc biệt, khi đến đây, chúng tôi không có một công ty Ý nào hỗ trợ. Chúng tôi còn vào sau so với các doanh nghiệp xe máy đến từ Nhật Bản hay Đài Loan, đến nay tỷ lệ nội địa hoá của chúng tôi từ 50%-70% tuỳ thuộc vào phụ tùng.
Tôi có thể là tự hào trong vòng 10 năm hoạt động, Piaggio đã đầu tư 3 triệu USD để đầu tư vào phát triển tỷ lệ nội địa hóa. Chúng tôi không phải công ty lớn như Samsung, chỉ là trung bình thôi nhưng chúng tôi muốn tạo ra sự khác biệt. Chúng tôi muốn tạo ra nhà cung cấp ở Việt Nam chứ không phải có sẵn. Chúng tôi cần những nhà cung cấp có kỹ thuật đáp ứng được. Đây là đặc thù trong ngành công nghệ xe máy bởi kỹ thuật là vấn đề cốt lõi để phát triển ngành này. 
Tôi cũng hiểu khá rõ chính sách khuyến khích đầu tư của Chính phủ Việt Nam, đặc biệt là những ưu đãi về thuế. Tôi nghĩ là những chính sách này rất là tốt cũng nên duy trì. Nhưng đó cũng không phải là giải pháp duy nhất, cần có các giải pháp dài hạn hơn chứ không chỉ là chính sách khuyến khích như thế. 
Tôi cũng đồng ý các chuyên gia trình bày bản thân các doanh nghiệp trong nước phải tự phát triển cạnh tranh để năng cao mình hơn.
Chúng ta có rất nhiều nhà cung cấp trong nước cho tất cả những nhu cầu của doanh nghiệp kể cả phi sản xuất như marketing. Thực tế tôi thấy Việt Nam và một số công ty ở Ý có một số điểm chung về quy mô. Chúng tôi không chỉ tìm kiếm các doanh nghiệp sản xuất thuần tuý mà còn là những công ty có thể tiếp nhận những công nghệ mới. 
Chính phủ nên có hình thức hỗ trợ giúp các doanh nghiệp phát triển. Như bà Tuệ Anh có nói về tạo ra những tổ hợp ngành nghề. Việc hợp lực này sẽ giúp từng doanh nghiệp lớn mạnh hơn. 
Các công ty châu Âu đều có một nguồn kinh phí để hỗ trợ các nhà cung cấp của mình.
Một trở ngại khi kinh doanh tại Việt Nam là quyền sở hữu trí tuệ

Bà Phạm Thu Thủy – Phụ trách Truyền thông của Tập đoàn ABB tại Việt Nam: Lĩnh vực năng lượng được dự kiến sẽ là một trong những "chìa khóa" quan trọng để thu hút nguồn vốn FDI sắp tới của Việt Nam. Lĩnh vực này được dự báo sẽ thu hút đến 4,5 tỷ USD vốn FDI trong năm nay, tăng 60% so với năm ngoái.

Một nền kinh tế tăng trưởng nhanh như Việt Nam, tốc độ tăng trưởng của nhu cầu điện 11-12% năm, giá bán điện vẫn ở mức thấp và có tiềm năng để tăng dần trong tương lai... là những yếu tố hấp dẫn để thu hút thêm các nhà đầu tư đầu tư phát triển hệ thống điện.

Tuy nhiên một trở ngại khi kinh doanh tại Việt Nam là quyền sở hữu trí tuệ. Ví dụ, ở Việt Nam có rất nhiều công ty lấy tên ABB của chúng tôi.

Doanh nghiệp FDI có mục tiêu rất lớn nhưng cơ quan quản lý lại đánh giá khác

Ông Nguyễn Văn Hoà – Trợ lý Phòng Kinh tế Đại sứ quan Mỹ: Trên quan điểm cá nhân tôi, một vấn đề mà các doanh nghiệp gặp phải là thời gian cấp phép đầu tư quá lâu. Các doanh nghiệp FDI có mục tiêu rất lớn, tuy nhiên cơ quan quản lý Nhà nước lại đánh giá khác. Theo tôi đó là một điều ảnh hưởng đến mục tiêu của chúng ta.

Doanh nghiệp FDI có mục tiêu khác, địa phương có mục tiêu khác. Hiện nay chúng ta phân cấp nhiều cho địa phương, nhưng tuy nhiên họ lại không có nhiều tác động tới việc chúng ta sẽ thực hiện các mục tiêu như thế nào?

Nhiều khi lãnh đạo cao cấp Việt Nam có những cam kết rất lớn khi đi công du nước ngoài nhưng khi địa phương thực hiện lại có sự khác biệt và nhà đầu tư nước ngoài cảm thấy lúng túng.

"Để đánh giác tác động lan toả, một mình chính sách FDI là không đủ"

Ông Đặng Xuân Quang - Phó cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài: Ngoài những tác động với phương pháp tiếp cận chỉ số năng suất tổng hợp đó là tác động của FDI với cải cách môi trường kinh doanh thì đó là yếu tố nằm ngoài kinh tế lượng. Tác động hiệu ứng tràn về FDI chúng tôi đồng tình với bà Tuệ Anh. Đó là liên kết theo chiều dọc và tác động đến chuỗi. Một số ý kiến góp ý tại đây sẽ cần nhiều thời gian để cân nhắc thêm, ví dụ nội địa hoá, trách nhiệm của nhà đầu tư nước ngoài.

Chúng tôi đang triển khai tổng kết 30 năm đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Bản thân Cục Đầu tư nước ngoài khi đánh giá lan toả FDI cũng dựa trên nền tảng lý thuyết căn bản.

 Ông Đặng Xuân Quang - Phó cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài

Khi đề cập đến tính lan tỏa, chúng ta không nói đến tác động trực tiếp mà là ảnh hưởng đến phần còn lại của nền kinh tế. Khi tiếp cận vấn đề này, chúng tôi cố gắng dùng kinh tế lượng để lượng hoá. Nhưng dường như các phương pháp kinh tế lượng chỉ đủ tin cậy khi tiếp cận trong một phạm vi hẹp.

Chúng ta đã từng tổng kết 20 năm, đến 25 năm và bây giờ là 30 năm. Bây giờ chúng ta phải cân nhắc hết sức thận trọng các nhóm giải pháp. Giải pháp hiện thiên về hướng thị trường, còn về hành chính rất khó áp dụng được trong bối cảnh hiện nay.

Một vấn đề chúng ta đã thống nhất trong buổi hội thảo này là doanh nghiệp FDI thực sự có nhu cầu kết nối. Tại sao mối liên kết còn hạn chế? Chúng tôi đã phân tích một số nguyên nhân, rõ ràng là trong giai đoạn đầu thu hút FDI, chúng ta đã thu hút được rất nhiều yếu tố như vốn, công nghệ, lao động.

Bắt đầu từ năm 2005 thì chúng ta bị giới hạn bởi WTO, nên những biện pháp khuyến khích chuyển giao công nghệ dựa trên cơ sở nội địa hoá bị giới hạn. Đây là giai đoạn phát triển rất mạnh khối tư nhân trong nước, nhưng khối tư nhân chưa được dành nguồn lực thực sự phù hợp. Để đánh giác tác động lan toả, một mình chính sách FDI là không đủ, nó là điểm giao thoa gặp gỡ của rất nhiều hệ thống khác nhau.

Trong thời gian tới, để tiếp tục triển khai tổng kết 30 năm, Cục Đầu tư nước ngoài sẽ phối hợp với Hiệp hội Nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (VAFIE) tổ chức thêm các hội thảo, toạ đàm để thu hút thêm các ý kiến, quan điểm các vấn đề liên quan. Chúng tôi mong tiếp tục nhận được các ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các nhà khoa học.

Nhiều doanh nghiệp cam kết tỷ lệ nội địa hóa cao, nhưng phổ biến chỉ là 10%

Ông Nguyễn Thanh Chính – Phó ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc: Theo nhận thức của tôi, dòng vốn FDI tác động theo cả không gian và thời gian, kể cả sang thế hệ khác. Nó có cả tác động tích cực lẫn tiêu cực, tác động đến mọi vấn đề của đời sống. Toàn tỉnh Vĩnh Phúc đến lúc này có 253 dự án FDI với tổng số vốn 3,7 tỷ USD. Riêng các khu công nghiệp có số vốn 2,6 tỷ USD, thu hút trên 70.000 lao động. Như vậy, tác động về mặt xã hội và kinh tế là tích cực.

Ông Nguyễn Thanh Chính – Phó ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc
Tôi muốn nêu một số vấn đề. Khi đầu tư vào cả nước hay Vĩnh Phúc nói riêng, nhiều doanh nghiệp cam kết tỷ lệ nội địa hoá cao, nhưng lúc này phổ biến chỉ là 10%.

Vấn đề tiếp theo là tình trạng nhân lực, vừa bất cập cả về lượng lẫn về chất. Có những nơi doanh nghiệp thiếu tới hàng nghìn lao động. Nhà nước nên có chính sách hỗ trợ người lao động có thể chuyển qua lại giữa các địa phương.

Ông Nguyễn Anh Tuấn: Tổng kết lại hội thảo hôm nay, chúng ta có nhiều vấn đề cần phải bàn thêm, như làm sao để doanh nghiệp Việt Nam mạnh lên, liệu chúng ta có làm được không, đâu là những điều kiện cần và đủ? Đây là câu hỏi các chuyên gia, doanh nghiệp sẽ tiếp tục thảo luận trong các buổi hội thảo sau.
Các ý kiến tại buổi hội thảo sẽ được truyền đạt đến độc giả của báo BizLIVE và các báo khác, và có thể đến lãnh đạo Chính phủ.
 Các diễn giả chụp ảnh lưu niệm tại Toạ đàm

 

BIZLIVE

Từ khóa: FDI, doanh nghiệp

BizLIVE - Gặp gỡ