Lệnh trừng phạt là phao cứu sinh của kinh tế Nga, làm ông Putin mạnh lên?

Lề Phương

12:20 26/10/2015

BizLIVE - Không chỉ thất bại trong việc thay đổi tình hình tại Ukraine, các lệnh trừng phạt của phương Tây còn là động lực để Nga tiến gần hơn tới chuyển dịch cơ cấu vốn được kỳ vọng từ lâu, khiến viễn cảnh về một phép màu kinh tế trở nên rõ rệt hơn.

Lệnh trừng phạt là phao cứu sinh của kinh tế Nga, làm ông Putin mạnh lên?

Tỷ lệ dân Nga ủng hộ của ông Putin đạt 89,9% trong tháng 10, cao chưa từng có từ trước đến nay.

Các lệnh trừng phạt kinh tế phương Tây áp vào Nga kể từ tháng 3/2014 chắn chắn đã mang lại vết thương đau đớn. Nhưng chưa thể nói chúng đã làm yếu đi vị thế của Tổng thống Nga Vladimir Putin.

Trên thực tế, chúng thậm chí đã phản tác dụng, khiến ông Putin và kinh tế Nga mạnh mẽ hơn bao giờ hết, bài viết trên trang Project Syndicate chỉ ra.

Thiệt hại đôi bên

Theo ước tính, các nước thuộc Liên minh châu Âu thiệt hại 100 tỷ USD giá trị thương mại với Nga, tổn thất trực tiếp tới nông dân ngành bơ sữa và các nhà xuất khẩu công nghiệp tại Đức.

Về phần mình, GDP Nga co bóp 4,6% trong quý II/2015 so với cùng kỳ năm trước. Đồng ruble giảm hơn một nửa giá trị so với USD trong nửa cuối năm 2014, đẩy lạm phát tăng vọt lên tới 15,6% trong tháng Bảy so với cùng kỳ.

Nhưng giờ đây, lạm phát đã chạm đỉnh. Ngoài ra, hiệu ứng tiêu cực từ giá dầu và khí đốt giảm được bù đắp nhờ đồng USD tăng giá. Do đó, giá trị kho dự trữ ngoại hối của Nga tăng lên, chạm 362 tỷ USD trong tháng Sáu.

Đoàn xe kéo của nông dân Pháp ùn ùn đổ về trung tâm thủ đô Paris để biểu tình phản đối các tác động từ lệnh trừng phạt nhằm vào Nga. 

Theo kết quả cuộc khảo sát của Trung tâm thăm dò dư luận Nga, tỷ lệ dân Nga ủng hộ của ông Putin đạt 89,9% trong tháng 10, cao chưa từng có từ trước đến nay.

Tự do thương mại không phải là tất cả

Theo lý thuyết, thương mại tự do mang lại tăng trưởng, nhờ đó hỗ trợ về mặt chính trị cho chính phủ. Ngược lại, hạn chế thương mại bóp nghẹt tăng trưởng, kéo theo tỷ lệ ủng hộ chính quyền sụt giảm.

Tuy nhiên giả thiết này có nhiều lỗ hổng.

Đầu tiên, không một siêu cường nào phụ thuộc đơn thuần vào chính sách tự do kinh tế. Ví dụ, Vương quốc Anh đưa nền kinh tế trỗi dậy phần lớn nhờ các chiến lược bảo hộ, chính sách công nghiệp, thuế quan và các hàng rào phi thuế quan khác.

Sức mạnh công nghiệp của Anh xuất phát từ ngành công nghiệp dệt may. Lãnh đạo London nhận thấy việc xuất khẩu các nguyên liệu thô, chủ yếu là len, là không đủ để thổi đà tăng trưởng kinh tế.

Anh quyết định leo thêm một nấc trên bậc thang giá trị gia tăng, bằng cách nhập nguyên liệu thô và xuất khẩu hàng thành phẩm.

Chính quyền London thảo ra chính sách công nghiệp mới. Họ đưa thợ dệt sợi từ Flanders, Bỉ sang để hỗ trợ chuyên môn cho các doanh nghiệp Anh.

Hơn nữa, họ dựng lên một loạt các rào cản thương mại: Cấm xuất khẩu len thô và thành phẩm từ len. Nhờ vậy, các sản phẩm dệt may chất lượng cao hơn và rẻ hơn của Ấn Độ không thể cạnh tranh với hàng của Anh.

Anh thông qua luật hàng hải nhằm hạn chế tàu nước ngoài cập cảng ở Anh. Thậm chí, một đạo luật kích cầu được ban hành, yêu cầu tử thi phải được chôn cất trong trang phục bằng len.

Cuối cùng, công cuộc cơ giới hóa ngành công nghiệp dệt may bén rễ thành cuộc Cách mạng Công nghiệp.

Sản xuất hàng loạt và xuất khẩu đã củng cố sự phát triển của đội tàu biển lớn nhất thế giới của Anh.

Thúc đẩy kinh tế

Không những không ghìm nén, đôi khi các lệnh trừng phạt còn thúc đẩy phát triển kinh tế. Năm 1812, khi Anh tuyên bố chiến tranh và áp đặt cấm vận thương mại vào hàng Mỹ, việc phát triển ngành thay thế hàng nhập khẩu đã giúp mảng sản xuất của Mỹ nở rộ.

Khi lệnh cấm vận được dỡ bỏ và thuế quan được cắt giảm, ngành sản xuất của Mỹ bắt đầu điêu đứng.

Công cuộc cơ giới hóa ngành công nghiệp dệt may bén rễ thành cuộc Cách mạng Công nghiệp tại Anh 

Mãi đến năm 1828, khi Anh một lần áp đặt mức thuế mới, thì ngành sản xuất của Mỹ lại khởi sắc.

Tương tự, trong Thế chiến I, lệnh cấm vận thương mại của Anh đã đẩy mạnh sự phát triển của các ngành công nghệ cao của Đức nhờ nhu cầu đối với sản phẩm thay thế.

Tác động khốc liệt nếu…

Đương nhiên, các lệnh cấm vận có thể mang lại những tác động khốc liệt nếu một quốc gia thiếu đi nguồn lực cần thiết để sản xuất hàng thay thế hàng nhập khẩu. Đó là lý do vì sao các lệnh trừng phạt đã hủy hoại nền kinh tế của Iran và Iraq.

Tuy nhiên, đối với một quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên dồi dào, công nghệ tiên tiến và lực lượng lao động lành nghề như Nga, các lệnh trừng phạt có thể mang lại tác động ngược.

Tóm lại, Nga có tất cả những điều kiện cần để phát triển mạnh, bất chấp có bị áp trừng phạt hay không. Nhưng để biến cơ hội thành hiện thực, Nga phải tiến hành cải cách kinh tế.

Học thuyết thương mại tân cổ điển được xây dựng dựa trên khái niệm về lợi thế so sánh: Các quốc gia cần phát huy thế mạnh tương đối của mình, từ năng lực kỹ thuật đến tài nguyên có sẵn.

Tuy nhiên, giống như tầm nhìn của các nhà lãnh đạo Anh, chỉ xuất khẩu nguyên liệu thô là không đủ để đẩy mạnh phát triển.

Lịch sử chứng minh các chính sách phát triển hiệu quả nhất đều có sự can thiệp của chính phủ, họ sẽ thiết lập các ngành công nghiệp nội địa có giá trị gia tăng cao. Đây cũng là con đường mà các nền kinh tế như Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, và Trung Quốc đã chọn.

Phép màu kinh tế

Đối với Nga, việc tiến bước trên bậc thang giá trị gia tăng là không quá khó. Nước này có đủ các nguồn lực để sản xuất ra thành phẩm từng lệ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Trên thực tế, các sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu đã thúc đẩy một số ngành so với trước đây, trong đó có thể kể đến cơ khí, hóa dầu, công nghiệp nhẹ, dược phẩm và nông nghiệp.

Giá trị xuất khẩu hàng năm của các mặt hàng có giá trị gia tăng cao đã leo dốc 6% trong quý đầu năm nay.

Hơn nữa, chính quyền Moscow đã và đang đẩy mạnh hợp tác với các nền kinh tế khác trong nhóm BRICS (Brazil , Ấn Độ , Trung Quốc và Nam Phi). Gần đây, ông Putin công bố kế hoạch kích cầu nội địa đầy tham vọng.

Không chỉ thất bại trong việc thay đổi tình hình tại Ukraine, các lệnh trừng phạt của phương Tây còn là động lực để Nga tiến gần hơn tới chuyển dịch cơ cấu vốn được kỳ vọng từ lâu, khiến viễn cảnh về một phép màu kinh tế trở nên rõ rệt hơn.

Tác giả bài viết: 

Richard A. Werner là giáo sư ngành Ngân hàng Quốc tế tại Đại học Southampton. Ông đồng thời là tác giả của cuốn New Paradigm in Macroeconomics.

Vladimir I. Yakunin là Chủ nhiệm bộ môn Chính sách nhà nước tại Đại học Quốc gia Lomonosov, Chủ tịch sáng lập của Diễn đàn Chính sách Thế giới, và là cựu Chủ tịch của Công ty Đường sắt Nga.

LỀ PHƯƠNG