Trung Quốc cần gạo Việt nhưng vẫn ép giá rẻ: Vì ai?

Thành Luân

09:05 12/07/2015

Trung Quốc có nhu cầu lớn về gạo nhưng không phụ thuộc vào thị trường nào. Họ biết lối mua bán của Việt Nam nên bắt thóp để mua rẻ.

Trung Quốc cần gạo Việt nhưng vẫn ép giá rẻ: Vì ai?

Ảnh minh họa.

Trung Quốc không phụ thuộc vào thị trường nào

Bộ Công thương vừa tổ chức Đoàn công tác sang Trung Quốc để xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm đầu ra cho mặt hàng gạo.

Báo Đầu tư ngày 3/7 đưa tin, nhân dịp này, Bộ Công Thương đã phối hợp với Tổng lãnh sự quán Việt Nam tại Quảng Châu và lãnh đạo tỉnh Quảng Đông, tổ chức Hội thảo giao thương gạo, nông sản Việt Nam - Trung Quốc. Hội thảo đã thu hút được sự tham gia của hơn 100 doanh nghiệp hàng đầu hoạt động trong lĩnh vực nhập khẩu, buôn bán gạo, nông sản Trung Quốc.

Phát biểu tại hội thảo, lãnh đạo tỉnh Quảng Đông đánh giá, Việt Nam là quốc gia có ưu thế về sản xuất nông nghiệp, tiềm năng hợp tác giữa hai bên còn nhiều. Quảng Đông là địa phương có quy mô dân số hơn 100 triệu người và có nhu cầu rất lớn đối với các mặt hàng nông sản, đặc biệt là mặt hàng gạo. Mặt hàng gạo của Việt Nam có chất lượng tốt, hợp túi tiền người tiêu dùng.

Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Quảng Đông cũng có bài phát biểu nhấn mạnh, nhu cầu nhập khẩu số lượng lớn hàng nông sản, đặc biệt là mặt hàng gạo của Quảng Đông, đồng thời bày tỏ sẵn sàng xây dựng cơ chế tăng cường hợp tác với Hiệp hội Lương thực Việt Nam, phát huy vai trò cầu nối cho doanh nghiệp hai bên tăng cường giao thương, tìm kiếm cơ hội hợp tác thương mại gạo, nông sản.

Bày tỏ quan điểm về những thông tin này, PGS.TS Nguyễn Văn Nam cho rằng, một đất nước 1,3 tỷ dân như Trung Quốc, đang trong quá trình công nghiệp hóa, sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp một cách tương đối, vài năm gần đây thường xuyên bị thiên tai, từ hạn hán đến lụt lội nên Trung Quốc có nhu cầu cao về lương thực là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, Trung Quốc có cả thị trường rộng khắp thế giới, họ có thể nhập khẩu gạo, lúa mỳ và các loại lương thực khác. Do đó, Trung Quốc không bị phụ thuộc vào bất cứ thị trường nào, chưa kể nông sản thế giới đang bị dư thừa và xuống giá.

Đối với Việt Nam, ông Nam cho rằng, Trung Quốc có nhu cầu mua gạo Việt Nam là đúng bởi gần về vị trí địa lý, phù hợp với thị hiếu tiêu dùng của Trung Quốc, mua bán đơn giản.

"Tuy nhiên, việc mua bán giữa hai bên cho thấy điểm yếu kém của Việt Nam xưa nay chưa khắc phục được:

Thứ nhất, Việt Nam chưa tổ chức nghiên cứu một cách bài bản thị trường tiêu thụ gạo ở Trung Quốc. Cái Việt Nam cần không phải là vài đoàn cán bộ nhà nước đi nghiên cứu "làm phép" mà phải là cơ quan quản lý nhà nước có chức năng quản lý gạo xuất khẩu thật sự kết hợp với doanh nghiệp.

Việc có sự tham gia của doanh nghiệp là bắt buộc, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu gạo lớn có uy tín chứ không phải mấy doanh nghiệp quốc doanh. Phải nghiên cứu, khảo sát, từ đó xác định được nhu cầu, thị hiếu, mẫu mã, giá cả... rồi có quyết sách sản xuất, chế biến gạo để xuất khẩu sang TQ.

Thứ hai, thiếu sót trong mua bán gạo giữa thương nhân Việt Nam và thương nhân Trung Quốc. Đối với một thị trường lớn, ổn định thì quan hệ giao dịch phải chính ngạch, ký kết hợp đồng đàng hoàng, có thể ký trước 1 năm, thậm chí trước 2-3 năm để đảm bảo uy tín, độ tin cậy. Việt Nam chưa làm được điều này mà chỉ chăm chăm xuất khẩu gạo tiểu ngạch - ùn ùn chở gạo lên biên giới, Trung Quốc cần thì mua, không cần thì đổ đống.

Kiểu làm ăn gặp đâu bán đấy, có khách thì bán, không có khách thì thôi, ậm ừ mua bán trao tay, thanh toán rất rắc rối. Không phải phía Trung Quốc không có nhu cầu nhưng vì Việt Nam xuất khẩu tiểu ngạch, lại có những hàng khác hiệu quả cao hơn nên họ mua những hàng đó chứ không mua gạo Việt Nam, thậm chí chuyển sang mua gạo của Thái Lan, Campuchia...

Thứ ba, gạo Việt Nam chất lượng không đồng đều, loại độ ẩm cao, loại độ ẩm thấp, đổ đống lại chỉ một vài tháng là mốc. Với kiểu gặp gì bán nấy, thấy thị trường Trung Quốc lớn là cứ làm ào ào, sản xuất mà chưa có kế hoạch thị trường, tìm hiểu thị trường, giao dịch, hợp đồng... nên sản xuất ra mà không bán được thì chuyện bình thường, là lỗi của Việt Nam. Tất nhiên về phía Trung Quốc, họ cũng biết lối mua bán của Việt Nam nên mới bắt chẹt, bắt thóp để Việt Nam buộc phải bán rẻ", PGS.TS Nguyễn Văn Nam phân tích.

Thị trường truyền thống cũng bị thu hẹp

Trao đổi trên báo chí trước đó, Tổng Thư ký Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) Huỳnh Minh Huệ cho hay lượng gạo xuất khẩu năm tháng đầu năm 2015 của Việt Nam đạt 2,4 triệu tấn, thu về 1,05 tỉ USD. Con số này giảm hơn 11% về khối lượng và giảm 15% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014.

“Trung Quốc mấy năm gần đây luôn là thị trường nhập khẩu gạo Việt Nam lớn nhất với hơn 33% thị phần. Nhưng bốn tháng đầu năm 2015, xuất khẩu gạo sang thị trường Trung Quốc giảm đến 28% về khối lượng và giảm 31% về giá trị nên xuất khẩu gạo Việt Nam bị ảnh hưởng theo”, ông Huệ phân tích.

Trong khi đó, các thị trường truyền thống khác của gạo Việt Nam như Philippines, Malaysia, Indonesia cũng đang bị cạnh tranh khốc liệt. Lý giải điều này, nguyên Viện trưởng Viện Thương mại cho hay, các thị trường này không phải là hợp đồng thương mại mà là hợp đồng tập trung, nghĩa là Nhà nước giao cho hai doanh nghiệp quốc doanh gồm Tổng công ty lương thực miền Bắc (Vinafood 1) và Tổng công ty lương thực miền Nam (Vinafood 2) đi đàm phán, ký kết hợp đồng.

"Để có thành tích báo cáo, hai doanh nghiệp này luôn cố giành hợp đồng bằng cách bỏ giá thấp. Bao giờ họ cũng dùng chiêu này - bỏ giá thầu thấp hơn Thái Lan, thậm chí thấp hơn Campuchia. Nguồn cung gạo hiện nay đã tăng lên, không chỉ có Thái Lan, Việt Nam mà còn có Ấn Độ, Campuchia, Myanmar...

Doanh nghiệp nhà nước Việt Nam không tính hiệu quả vì họ ký thấp thì về nhà mua lúa của nông dân giá thấp, cho nên lợi nhuận của họ không suy chuyển, chỉ có lợi nhuận của nông dân bị mất. Vinafood không phải là người kinh doanh mà là người nhà nước giả vờ kinh doanh để báo cáo thành tích chứ không cần hiệu quả", PGS.TS Nguyễn Văn Nam thẳng thắn.

Vị chuyên gia có hàng chục năm tâm huyết với nông nghiệp Việt Nam chia sẻ, xuất khẩu lúa gạo Việt Nam muốn thay đổi phải phát triển hợp đồng thương mại. Những hợp đồng này không có hàng trăm ngàn tấn, hàng chục vạn tấn như hợp đồng tập trung vì ở đây là người tiêu dùng mua gạo. Muốn vậy, phải có doanh nghiệp xuất khẩu gạo thực sự, làm thương mại, kinh doanh thực sự chứ không phải công ty xuất khẩu gạo nửa nhà nước nửa kinh doanh.

"Việt Nam từ xưa đến nay chưa tạo được môi trường, chính sách để tạo dựng doanh nghiệp kinh doanh gạo nổi đình nổi đám. Mà sau này muốn có thương hiệu gạo Việt Nam cũng phải có những doanh nghiệp xuất khẩu gạo như thế.

Lúa gạo Việt Nam thua Campuchia vì Campuchia làm thương mại thực sự - có doanh nghiệp sống, doanh nghiệp chết nhưng nó sẽ đào tạo ra đội ngũ thương nhân vững mạnh. Đa phần các công ty lương thực ở Việt Nam là công ty các tỉnh, mà tỉnh cũng là công ty nhà nước. Công ty tư nhân Việt Nam có nhưng không thể nào cạnh tranh nổi với các công ty nhà nước vì bị chèn ép nhiều".

Theo Báo Đất Việt