8 năm gia nhập WTO, một hạt thóc Việt “cõng” hơn 100 khoản đóng góp

Minh Huệ

16:20 01/10/2015

BizLIVE -

Đoàn giám sát Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận định, nếu tình trạng “một hạt thóc nông dân sản xuất ra phải cõng hơn 100 khoản đóng góp; các loại phí chiếm tới 1/4 chi phí nuôi một con heo từ khi là con giống đến khi xuất chuồng” vẫn tiếp diễn thì năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam không thể cải thiện.

8 năm gia nhập WTO, một hạt thóc Việt “cõng” hơn 100 khoản đóng góp

8 năm gia nhập WTO, hạt thóc Việt phải cõng 100 khoản đóng góp

Đây là đánh giá về năng lực cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa Việt Nam sau khi gia nhập WTO của đoàn giám sát Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Báo cáo giám sát “Kết quả quá trình hội nhập kinh tế quốc tế từ khi Việt Nam là thành viên Tổ chức thương mại thế giới (WTO)”, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận định trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế năng lực cạnh tranh của các sản phẩm cũng chịu nhiều tác động.

“Từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO cũng tạo ra áp lực cạnh tranh lớn hơn, khiến không ít các thương hiệu sản phẩm của Việt Nam bị mất đi dưới nhiều cách thức khác nhau (bị thâu tóm, bị mua sản phẩm và đóng mác thương hiệu nước khác...) trên thị trường quốc tế và ngay cả thị trường trong nước”, báo cáo viết.

Điều đáng nói, các sản phẩm, nhất là nông sản phải chịu nhiều khoản đóng góp, loại phí, làm tăng chi phí, giảm năng lực cạnh tranh của sản phẩm. “Theo Viện Thị trường và Giá cả (Bộ Tài chính), một hạt thóc nông dân sản xuất ra phải cõng hơn 100 khoản đóng góp; các loại phí chiếm tới 1/4 chi phí nuôi một con heo từ khi là con giống đến khi xuất chuồng”, Ủy ban Thường vụ Quốc hội dẫn chứng.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đánh giá, một số sản phẩm xuất khẩu quá phụ thuộc vào một số thị trường (rau quả, cao su tự nhiên, khoáng sản thô…) nên thiếu tính ổn định, không bền vững, dễ bị ép giá, ảnh hưởng đến tâm lý của người sản xuất, có thể dẫn đến mất ổn định xã hội, nhất là một số sản phẩm nông nghiệp mang tính thời vụ cao.

“Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam hiện nay chủ yếu vẫn là gia công và xuất khẩu các sản phẩm thô nên giá trị gia tăng trong sản phẩm thấp, làm giảm năng lực cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam. Bên cạnh đó, sức cạnh tranh của các sản phẩm Việt Nam chịu sự tác động lớn của nguyên liệu đầu vào. Hiện nay hầu hết các ngành sản xuất chủ lực đều phụ thuộc lớn vào nguyên liệu đầu vào nhập khẩu nên khi giá nguyên liệu nhập khẩu tăng ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm”, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đánh giá.

Nếu lợi thế so sánh được tính trực tiếp thông qua tỷ trọng của từng mặt hàng trong tổng giá trị xuất khẩu, thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội đánh giá Việt Nam có 5 mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn (hàng dệt may; hàng điện tử, máy tính và linh kiện; giày dép; hàng thủy sản; gỗ và sản phẩm gỗ) cho thấy sự thay đổi về lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm này trước vào sau khi gia nhập WTO.

Kết quả cho thấy, tỷ trọng mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện tăng từ 4,5% năm 2007 lên 7,6% năm 2014, cao hơn so với giai đoạn trước khi gia nhập WTO (năm 2005: 4,4%; năm 2006: 4,5%) chủ yếu do hoạt động xuất khẩu của khu vực FDI. Trong khi đó, 4 mặt hàng còn lại có tỷ trọng giảm so với năm 2007 và giai đoạn 2007-2014 cũng giảm so với giai đoạn trước năm 2007.

“Điều này cho thấy, lợi thế so sánh của các ngành hàng đòi hỏi nhiều lao động như dệt may, giày dép, thủy sản, gỗ đang giảm xuống cùng với quá trình tăng cường yếu tố công nghệ cho tăng trưởng kinh tế, trong khi ngành hàng đòi hỏi nhiều vốn và yếu tố công nghệ (như ngành hàng điện tử, máy tính và linh kiện) có lợi thế so sánh tăng lên, xu hướng này phù hợp với xu thế phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng”, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận định.

Theo đánh giá của cơ quan này, hầu hết các ngành sản xuất công nghiệp đều chịu tác động sau khi Việt Nam gia nhập WTO như dệt may, giấy, máy móc và thiết bị điện-điện tử, hóa chất, phân bón, thép... Đây là những nhóm mặt hàng, sản phẩm được nhà nước bảo hộ cao sử dụng nhiều lao động, có kim ngạch xuất khẩu lớn.

“Do đó, trong quá trình lập và phê duyệt quy hoạch phát triển ngành, sản phẩm công nghiệp (ngành thép, hóa chất, giấy, dệt may, xi măng, vật liệu xây dựng, ôtô...), các Bộ, ngành, địa phương đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm sản xuất trong nước, đáp ứng đủ nhu cầu thiết yếu của người dân và tiến tới xuất khẩu”, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận định.

Mặc dù đã quan tâm đến việc lựa chọn công nghệ sản xuất tập trung đi liền với phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ; cung cấp nguồn nguyên liệu tại chỗ, các sản phẩm có lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh cao nhưng hiệu quả chưa đáp ứng được yêu cầu.

“Trong thời gian qua Chính phủ đã tập trung phát triển công nghệ sản xuất các ngành dệt may, da giầy, điện tử, sản xuất lắp ráp ô tô, cơ khí chế tạo, công nghệ cao, nhưng hiệu quả phát triển chưa cao, sản xuất lắp ráp ô tô, cơ khí chế tạo không đáp ứng yêu cầu tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, ngành dệt may, da giầy chủ yếu là gia công. Điều này đòi hỏi cần có sự rà soát thường xuyên, để điều chỉnh định hướng phát triển cho phù hợp”, Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu.   

MINH HUỆ