“Tư nhân Việt Nam thừa sức đầu tư hạ tầng du lịch nếu cơ chế hợp lí”

BIZLIVE

16:56 14/04/2017

BizLIVE - Tọa đàm “Hạ tầng du lịch – nền tảng cho du lịch Việt Nam cất cánh” diễn ra tại FLC Vĩnh Phúc Resort, với sự tham gia của các lãnh đạo, các chuyên gia kinh tế - bất động sản – du lịch đầu ngành. 

“Tư nhân Việt Nam thừa sức đầu tư hạ tầng du lịch nếu cơ chế hợp lí”

Toàn cảnh tọa đàm.

Năm 2016, Việt Nam đạt kỷ lục đón 10 triệu lượt khách quốc tế, tăng 26% so với năm 2015. Đây là tin vui của ngành du lịch nhưng con số này vẫn không quá ấn tượng nếu so sánh với các quốc gia lân cận như Thái Lan, Singapore hay Malaysia, với số khách quốc tế từ 15 - 30 triệu lượt khách/năm.
Du lịch Việt Nam đang phát triển dưới mức tiềm năng và chưa khai thác hết hiệu quả của 3.260 km bờ biển, 125 bãi biển lớn nhỏ, hàng ngàn cảnh quan thiên nhiên và di tích văn hoá trải rộng khắp đất nước.
Trong bối cảnh du lịch Việt Nam đang được định hướng thành nền kinh tế mũi nhọn theo Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, phát triển cơ sở hạ tầng du lịch trở thành một nhiệm vụ cấp thiết hàng đầu.
Theo đó, các nhà đầu tư chiến lược được đặc biệt khuyến khích đầu tư xây dựng các khu dịch vụ phức hợp, các dự án du lịch quy mô lớn, các trung tâm mua sắm, giải trí chất lượng cao tại những địa bàn tiềm năng.
Đây là những nhà đầu tư sẽ đóng góp rất lớn trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp vào địa phương, từ đó góp phần thúc đẩy lượng khách du lịch, khai thác hết tiềm năng tại những địa phương có lợi thế về thiên nhiên nhưng không có nguồn lực để tận dụng.
Tọa đàm “Hạ tầng du lịch – nền tảng cho du lịch Việt Nam cất cánh” do Báo điện tử Diễn đàn Đầu tư - BizLIVE.vn tổ chức tại FLC Vĩnh Phúc Resort sẽ xoay quanh vai trò của các nhà đầu tư chiến lược trong việc xây dựng những công trình quy mô, đồng bộ, góp phần tạo ra cú hích cho du lịch Việt Nam trong tương lai.
Hội thảo có sự tham gia của các lãnh đạo, chuyên gia kinh tế - bất động sản - du lịch:
- Ông Vũ Văn Thanh - Vụ trưởng Vụ khách sạn thuộc Tổng cục Du lịch
- Ông Nguyễn Quốc Anh - Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế Dịch vụ - Bộ Kế hoạch và đầu tư
- Ông Nguyễn Trần Nam - Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam
- Ông Lê Đăng Doanh - Nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương
- Ông Nguyễn Văn Phúc - Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội
- Ông Lương Hoài Nam - Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần hàng không lưỡng dụng Ngôi Sao Việt (Vietstar Airlines), Thành viên Hội đồng tư vấn du lịch thuộc Tổng cục Du lịch
- Ông Nguyễn Anh Tuấn – Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài
- Ông Lê Thành Vinh – Tổng giám đốc Tập đoàn FLC.
===
Xác định du lịch ngành du lịch trở thành mũi nhọn là đúng đắn
Mở đầu tọa đàm, ông Nguyễn Anh Tuấn – Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đánh giá Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị là nghị quyết rất quan trọng cho du lịch Việt Nam cất cánh. 
Tuy nhiên, cần làm gì để đưa nghị quyết này vào cuộc sống là điều người dân và công chúng quan tâm. Trong bối cảnh ngân sách Việt Nam có hạn, đầu tư vào cơ sở hạ tầng du lịch như thế nào để có thể giúp du lịch Việt Nam phát triển. Do đó, BizLIVE tổ chức tọa đàm “Hạ tầng du lịch – nền tảng cho du lịch Việt Nam cất cánh” để làm rõ một số vấn đề về hạ tầng du lịch. 
Để trả lời câu hỏi Làm gì để đưa Nghị quyết 08 vào cuộc sống sớm nhất, trước hết, kinh tế mũi nhọn là gì?
Ông Vũ Văn Thanh - Vụ trưởng Vụ khách sạn thuộc Tổng cục Du lịch: Để trở thành một ngành mũi nhọn thì cần phải đạt được nhiều tiêu chí, và một trong những tiêu chí quan trọng là tổng thu nhập, tỷ lệ đóng góp của ngành đó trong tổng thu nhập quốc dân.
Ông Vũ Văn Thanh - Vụ trưởng Vụ khách sạn thuộc Tổng cục Du lịch
Về đóng góp của ngành du lịch, hiện nay có nhiều số liệu, tuy nhiên, chưa đạt 10% GDP. 
Nhân đây, tôi xin thông tin tình hình tăng trưởng khách du lịch trong những năm qua. Năm 2016, Việt Nam đón trên 10 triệu khách du lịch quốc tế, tăng gấp đôi so với năm 2010 là 5,1 triệu, tăng 25,9% so với 2015, dự báo trong 2017 là 12,5 triệu lượt, 2020 là 17 đến 20 triệu lượt.
Lượt khách nội địa cũng tăng nhanh. Đóng góp của ngành du lịch vào GDP dự kiến đến năm 2020 là trên 10%; đạt 35 tỷ USD; giá trị xuất khẩu thông qua du lịch 20 tỷ USD, tạo ra 4 triệu việc làm.
Hiện đang có nhiều điều kiện thuận lợi tích tụ, đặc biệt là Đảng và Nhà nước quan tâm, có chính sách đầu tư cho hạ tầng, visa, môi trường kinh doanh du lịch thông qua một số chỉ thị và nghị quyết, mới nhất là Nghị quyết 08.
Ông Lương Hoài Nam - Phó tổng giám đốc Công ty cổ phần hàng không lưỡng dụng Ngôi Sao Việt (Vietstar Airlines): Cách đây 2 năm, một lãnh đạo cấp cao hỏi tôi rằng ngành nào là ngành kinh tế mũi nhọn, tôi trả lời là du lịch. 
Ông Lương Hoài Nam - Phó tổng giám đốc
Công ty cổ phần hàng không lưỡng dụng Ngôi Sao Việt (Vietstar Airlines)
Các lãnh đạo khi đi đến các địa phương đều coi một số ngành mũi nhọn. Người Việt Nam ta thành công với ngành và lĩnh vực gì? Tôi trả lời rằng, người Việt Nam ta chưa có cơ hội thành công với công nghiệp và công nghệ. Chúng ta đã từng muốn thành công với công nghiệp tàu thủy, ô tô, điện tử… Chúng ta muốn đến năm 2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển, nhưng đến nay chúng ta đã rút lại mục tiêu đó rồi, bởi có 15/20 chỉ tiêu không đạt được. Tôi hơi bi quan về vấn đề này bởi từ trước đến nay chúng ta chưa có năng lực sử dụng công nghệ. 
Thế hệ chúng tôi được cử sang Nga để học công nghệ, nhưng chúng tôi chưa làm được nhiều.
Tôi vẫn nói rằng thế hệ của chúng ta hiện nay phù hợp với các công việc về công nghệ chỉ như vậy thôi, chỉ lắp ráp chứ sáng tạo thì chưa làm được. 
Về nông nghiệp, với phương thức sản xuất dựa trên hộ gia đình thì không đưa công nghệ vào được nên năng suất cũng không khá lên được, khả năng bứt phá về nông nghiệp cũng không làm được. 
Nhưng con người chúng ta lại làm du lịch được. Nói du lịch là chiến lược, tôi nghĩ là đúng về năng lực con người, về nguồn lực xã hội, không tiêu tốn tài nguyên, đó là cái chúng ta làm được.
Điều hành khách sạn 4 - 6 sao Việt Nam hiện phải thuê nước ngoài. Như vậy nhưng ta làm chủ, còn họ chỉ làm thuê. Còn hơn người nước ngoài nhảy vào thuê ta gia công lắp ráp. Nói như vậy để khẳng định lựa chọn du lịch là kinh tế mũi nhọn là chuẩn xác. Chúng ta trở thành người chủ trên chính mảnh đất của chúng ta.
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Như vậy ngành kinh tế mũi nhọn được định nghĩa là ngành quan trọng, đóng góp lớn vào ngân sách, trên 10%, và là ngành có điều kiện, có nguồn lực phát triển, không tốn tài nguyên thiên nhiên.
Ông Nguyễn Văn Phúc - Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội: Quan điểm du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn đã được đề cập trong Luật Du lịch được Quốc hội thông qua năm 2005. Từ đó đến nay đã có nhiều nghị quyết của Đảng khẳng định lại khái niệm này và Nghị quyết 08 là văn bản mới nhất của Đảng khẳng định lại quyết tâm phát triển ngành du lịch mũi nhọn.
Ông Nguyễn Văn Phúc - Nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội
Sắp tới sẽ trình ra Quốc hội dự thảo luật thay thế Luật Du lịch 2005. Khái niệm này không phải là mới, chắc chắn là trong bối cảnh mới, tình hình mới, nội hàm của ngành kinh tế mũi nhọn phải hiểu khác. Tôi hiểu rằng, du lịch chiếm tỷ trọng lớn trong GDP rất khó, hiện nay mới chỉ chiếm 6,2%, không phải là lớn. 
Tôi cho rằng mũi nhọn phải là tiên phong, đột phá để dẫn dắt và kéo theo sự phát triển của các ngành khác. Ngành du lịch hiện nay chỉ chiếm trên 6% GDP, nhưng kéo theo rất nhiều ngành nghề, vì thế đây là ngành mang tính mũi nhọn dù tỷ trọng còn khiêm tốn.
Ông Lê Đăng Doanh - Nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương: Phiên họp Liên hiệp Quốc vừa qua có thảo luận về việc những nước nào đã thoát khỏi tình trạng chậm phát triển, trong đó nhiều nước thoát nghèo nhờ du lịch như Mali. 
Đặc trưng kinh tế mũi nhọn theo tôi phải bền vững, có tương lai và bảo vệ môi trường. Anh Lương Hoài Nam có nói đến du lịch không tốn tài nguyên, nhưng theo tôi thì hiện nay du lịch nhiều nơi sẽ rất tốn tài nguyên nếu gây ô nhiễm môi trường.
Ông Lê Đăng Doanh - Nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương
Nền kinh tế mũi nhọn phải có tốc độ tăng trưởng trên mức trung bình, nếu tăng trưởng thấp thì quá nhạt nhẽo. Ngành mũi nhọn phải tạo thêm nhiều việc làm. Trong thời kì hội nhập, ngành mũi nhọn phải góp phần nâng cao lợi thế cạnh tranh quốc gia, tạo cho năng lực cạnh tranh hấp dẫn hơn và thu hút sự chú ý của nước ngoài. Tiềm năng của du lịch Việt Nam cần được tận dụng tốt hơn.
Chúng ta thường bàn về hạ tầng cứng, nhưng chúng ta cũng cần có cả “hạ tầng mềm”. Đó là cách ứng xử, khung pháp luật, dịch vụ phục vụ khách.
Tôi thấy gần đây có những tín hiệu đáng mừng đó, ví dụ là sự phát triển của dịch vụ homestay – tức là ở nhà dân, dịch vụ này rất hấp dẫn. Tôi có những người bạn quốc tế và họ nói dịch vụ này ở Việt Nam rất thú vị, tôi cho rằng đây là một hướng đi tốt, cần phát triển cả phần cứng và phần mềm, vừa giúp đóng góp về kinh tế, vừa giới thiệu văn minh và dân tộc Việt Nam đến với khách quốc tế.
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Xin các diễn ra cho biết ý nghĩa của Nghị quyết 08 đối với sự phát triển của ngành du lịch?
Ông Nguyễn Trần Nam - Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam: Bộ Chính trị, các cơ quan Trung ương, Luật du lịch đều xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn. Tôi thấy như vậy là hướng đi rất chuẩn xác. Và đặc biệt lại càng có ý nghĩa đối với một năm như năm 2017. Tăng trưởng GDP quý I vừa công bố chỉ đạt 5,1%, đây là mức tăng rất thấp và đáng lo ngại. Chính phủ đã triệu tập các cơ quan, hiệp hội mời để nghe Tổng cục Thống kê báo cáo cụ thể và đưa ra các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng.
Ông Nguyễn Trần Nam - Chủ tịch Hiệp hội Bất động sản Việt Nam
Tôi thấy chúng ta có 2 điểm sáng trong bối cảnh kinh tế quý I tăng trưởng thấp hơn cùng kỳ năm 2015-2016. Đầu tiên là ngành du lịch. 
Cả quý I Việt Nam đã đón 3,3 triệu khách du lịch, nên mục tiêu đón trên 10 triệu khách và mức tăng trường 25-30% trong năm nay là trong tầm tay.
Nghị quyết 08 xác định ngành du lịch trở thành mũi nhọn là đúng, bởi trước đây chúng ta chưa có cơ sở hạ tầng. Trước khi Tập đoàn FLC vào, thì Bình Định chưa có cơ sở hạ tầng. Giờ thì khách đến đây đã rất đông. Rồi như cả Thanh Hóa, Phú Quốc…, bên cạnh đó là các dịch vụ homestay như ông Doanh đề cập.
Tôi cho đây là nghị quyết đúng đắn, bởi chúng ta có thiên nhiên cảnh quan, khí hậu tuyệt vời. Tôi đã đi một loạt các khu du lịch nổi tiếng ở các nước như Phuket, Bali, Varadero, thấy rằng thiên nhiên của họ không là gì so với Việt Nam. Ngoài ra nước ta có khí hậu trời cho, ấm áp quanh năm. Hạ tầng mềm của mình cũng rất phong phú với văn hóa đa dạng.
Ba yếu tố để du lịch phát triển
Ông Nguyễn Văn Phúc: Tôi cho rằng phát triển du lịch của nước ta có ba yếu tố quan trọng. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc xuất phát từ ngành du lịch, là người rất am hiểu trong ngành, ngay khi nhậm chức, Thủ tướng đã có những cuộc họp rất quan trọng liên quan đến các chính sách cho ngành du lịch, thứ hai là Nghị quyết 08, thứ ba là năm nay Quốc hội sẽ thông qua Luật du lịch. 
Về ý nghĩa, tầm quan trọng nghị quyết 08, tôi khẳng định đã là Nghị quyết của Bộ Chính trị thì đều cực kỳ quan trọng, từ hệ thống quan điểm đến mục tiêu giải pháp đều cực kỳ cụ thể. Rất nhiều điểm trong nội dung nghị quyết chúng tôi đã cố gắng thể hiện trong luật du lịch.
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Vấn đề rất nhiều người quan tâm, đó là làm sao thể chế hoá nghị quyết của Bộ Chính trị. Tôi muốn hỏi sau khi có Nghị quyết, các chương trình hành động cụ thể được tiến hành như thế nào?
Ông Vũ Văn Thanh: Sau khi Nghị quyết 08 Bộ Chính trị ban hành, Bộ trưởng Bộ Văn hoá đã chỉ đạo Tổng cục Du lịch và các đơn vị chức năng xây dựng chương trình hành động thực hiện. Có hai chương trình là của Chính phủ và của Bộ. Chương trình của Chính phủ đã tập hợp ý kiến bộ ngành địa phương và trình lên Thủ tướng. Chúng tôi cũng soạn sẵn một chương trình mà sau khi chương trình hành động Chính phủ thông qua thì sẽ tiến hành luôn.
Ông Nguyễn Quốc Anh - Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế Dịch vụ, Bộ Kế hoạch và đầu tư: Trên cơ sở Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị, Bộ Văn hóa – Thể thao đã xây dựng Nghị quyết cấp Bộ và Chính phủ. Nghị quyết của Chính phủ sẽ đề ra các điểm cụ thể để thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị.
Bộ Kế hoạch và đầu tư sẽ xây dựng một nghị quyết để trình Chính phủ, trong đó có đề cập đến hạ tầng du lịch để thực hiện tốt Nghị quyết của Đảng. 
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Nghị quyết 08 có gặp khó khăn gì trong quá trình triển khai không?
Ông Lê Đăng Doanh: Một số nghị quyết của Bộ Chính trị có “số phận” không được may mắn lắm. Nhưng tôi tin tưởng và lạc quan về nghị quyết du lịch này, bởi tôi nghĩ ngành du lịch có tiềm năng, nếu chỉ đạo tốt thì chúng ta có thể phát huy các tiềm năng này.
Chúng ta phải tận dụng hết các nguồn khách du lịch. Ví dụ với khách du lịch từ Trung Quốc, nhóm này gặp nhiều tai tiếng vì cách cư xử thiếu văn hóa, tuy nhiên chúng ta phải tìm cách khắc phục, chứ không thể cấm. 
Ngoài ra, số người cao tuổi ở Nhật Bản rất lớn, đây là một nguồn khách du lịch tiềm năng. Chúng ta có thể kéo họ đến đây nghỉ ngơi, chữa bệnh.
"Quyền lợi của ngành du lịch là ủng hộ tự do hoá hàng không"
Ông Lương Hoài Nam: Năm 1995, tôi có việc phải nhập cảnh vào Seychelles. Đây là một đất nước rất đẹp, nhưng chỉ có mỗi ba khách sạn. 
Tôi hỏi họ tại sao đất nước đẹp thế này thì sao không xây nhiều khách sạn để đón thêm nhiều khách. Họ trả lời tôi rằng có xây nhiều hơn nữa thì giá cả lại phải cạnh tranh giảm xuống, cuối cùng tổng thu chỉ có vậy. 
Trong khi đó, dân số nơi này chỉ có 70.000 người thôi cho nên không cần xây nhiều làm gì. Khách giá rẻ đến nhiều, ý thức kém sẽ phá hủy môi trường. Họ chỉ muốn phục vụ khách giàu, không cần đến số lượng quá nhiều. Đó là quan điểm về phát triển bền vững ở thời điểm đó. 
Chúng ta cần phải lựa chọn phát triển du lịch theo hướng nào. Cách đây ba năm, chúng tôi đón một đoàn từ Đại học Havard. Họ hỏi tôi Việt Nam nên phát triển du lịch theo hướng nào. Tôi cho rằng chúng ta không nên phát triển du lịch theo hướng bình dân hóa, xô bồ như Thái Lan, mà cần phát triển ở phân khúc cao cấp và bền vững hơn.
Đến giờ tôi vẫn chưa thay đổi quan điểm này. Hướng tốt nhất để phát triển du lịch Việt Nam là theo hướng trung và cao cấp. Theo hướng đó, tuy chúng ta không đón được nhiều khách, nhưng chúng ta vẫn có được doanh thu tốt mà không tiêu tốn tài nguyên. Tuy vậy, đến bây giờ tôi nghi ngờ chúng ta có khả năng phát triển phân khúc đó.
Cách đây 2 năm chúng tôi sang Mỹ gặp một triệu phú để đến chào mời du lịch. Ông ấy nói tôi thuyết trình rất hay, nhưng hỏi ngược lại: “Vấn đề là tại sao tôi phải đi du lịch ở một nước như Việt Nam khi mà tôi phải làm visa?”
Toàn cảnh Tọa đàm 
Do đó, tôi nghĩ Việt Nam nên đi theo phân khúc trung và cao cấp, nhưng liệu chúng ta có đáp ứng được phân khúc đó không, vì vậy, hạ tầng phải đi theo định hướng.
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Phân khúc trung và cao cấp như anh Nam nói là chủ yếu hướng tới du khách quốc tế, nhưng Nghị quyết 08 hướng tới cả du lịch trong nước, tức là cả phân khúc bình dân. Vậy hạ tầng đóng vai trò ra sao trong việc hiện thực hóa Nghị quyết 08?
Ông Lương Hoài Nam: Là người làm trong ngành hàng không, tôi cho rằng hàng không cực kỳ ảnh hưởng tới du lịch. Tôi ủng hộ tự do hoá, phi điều kiện hoá hàng không. 
Như trước đây quan điểm về hàng không là 1-1, tức là tôi bay sang anh một ngày một chuyến thì anh cũng bay sang tôi một ngày một chuyến. Nhưng giờ anh muốn bay sang bên tôi bao nhiêu thì tùy anh, và ngược lại.
Như vậy quan điểm trong Nghị quyết 08 nói nôm na là phi điều tiết, tự do hoá hàng không. Hàng không nội địa cũng vậy, phải phi điều tiết, tự do hoá. Vừa rồi tôi đã lên tiếng phản đối việc đề xuất áp giá sàn vé máy bay nội địa. 
Nếu áp giá sàn đối với vận tải hàng không thì sẽ ảnh hưởng tới ngành du lịch. Bộ Giao thông vận tải sau đó đã có quan điểm là không áp giá sàn, ai muốn giảm giá, bán vé máy bay rẻ bao nhiêu thì tuỳ. Tôi nghĩ rằng quyền lợi của ngành du lịch là ủng hộ tự do hoá cả hàng không quốc tế lẫn nội địa.
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Nghị quyết 08 ghi rõ là tạo điều kiện cho các hãng hàng không. Đến nay các hãng hàng không có gặp khó khăn nào khi lập đường bay không?
Ông Lương Hoài Nam: Không ai cấm mở đường bay bất kì từ địa phương nào đến địa phương hay nước nào. Tôi nhận thấy các đường bay đến Vientiane (Lào) hay một số điểm đến khác đều được ủng hộ hết.
Gần đây có một cách làm rất hay của các địa phương. Khi các hãng hàng không tỏ ra thiếu tự tin khi mở đường bay trong nước do lo lỗ, một số địa phương như Quảng Bình, Thanh Hóa,... tuyên bố sẵn sàng tài trợ trong thời gian đầu để khuyến khích các hãng mở đường bay. 
Nếu các địa phương có quan điểm đó thì đường không nội địa sẽ rất phát triển. Tôi khẳng định không có rào cản nào để phát triển các hãng hàng không và đường bay.
Những kênh huy động vốn cho phát triển hạ tầng du lịch
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Trong điều kiện ngân sách nhà nước hạn hẹp, huy động vốn như thế nào để phát triển ngành?
Ông Nguyễn Quốc Anh: Trước hết, phải nói rằng, Nghị quyết 08 được đưa ra rất chính xác và đúng thời điểm. Việt Nam là một quốc gia có các điều kiện tự nhiên, biển, rừng núi, so với những nơi khác không thua kém nhưng tạo sao lại không thu hút được nhiều khách? 
Có rất nhiều lý do cả khách quan và chủ quan như tính chuyên nghiệp trong ngành du lịch, vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm,... làm cho khách du lịch nhiều khi không muốn quay lại. 
Ông Nguyễn Quốc Anh - Phó Vụ trưởng Vụ Kinh tế Dịch vụ - Bộ Kế hoạch và đầu tư
Ngoài ra, Việt Nam cũng còn rất thiếu khu vui chơi, địa điểm mua sắm, làm cho khách không có nhiều trải nghiệm.
Nghị quyết 08 có rất nhiều giải pháp, phát triển hạ tầng là một trong những giải pháp quan trọng. Đây cũng là lần đầu tiên ngành du lịch có một nghị quyết từ cấp cao nhất. Trước đó, năm 2011, Chính phủ cũng đã có phê duyệt chiến lược phát triển ngành du lịch đến 2030.
Rất nhiều nhiệm vụ giải pháp đã được đề ra, trong đó có vấn đề đầu tư cho hạ tầng du lịch. 
Về nguồn vốn, hiện nay đã có nguồn vốn hỗ trợ có mục tiêu cho ngành du lịch, đã được triển khai từ năm 2000 nhưng quy mô không lớn lắm. 
Đến năm 2011, việc này đã được quy định rõ hơn trong nghị quyết Chính phủ. Năm 2015, nguồn vốn cho ngành du lịch đạt trên 3.500 tỷ đồng được phân cho 50 địa phương. 
Các hạng mục hỗ trợ chủ yếu là khu du lịch các địa phương, trong đó 90% vốn là làm hạ tầng giao thông, kết nối các khu du lịch; một phần là cho hệ thống điện nước cho các khu du lịch. 
Có thể nói nguồn vốn này chưa đáp ứng đủ nhu cầu của các địa phương. Nhu cầu hàng năm lên tới 3-5.000 tỷ nhưng thực tế chỉ đáp ứng được 25-30% thôi. 
Tuy nhiên, số vốn này cũng giúp nâng cấp phần nào hệ thống hạ tầng, qua đó thu hút được khách du lịch, tạo nguồn thu và tạo việc làm cho người dân địa phương. 
Các nguồn vốn chủ yếu được hỗ trợ cho nơi khó khăn như miền Trung, Tây Nguyên. Nguồn vốn hỗ trợ này Nhà nước mong muốn đó là nguồn vốn mồi để thu hút vốn tư nhân, ODA…  
Tuy nhiên, từ năm 2020, vốn cho hạ tầng du lịch sẽ ngày càng ít đi. Nếu chỉ trông chờ nguồn vốn nhà nước thì rất hạn hẹp, trong khi đó, thực tế một số địa phương khó khăn về ngân sách nhưng nhiều khi còn ỷ lại, chưa năng động để thu hút vốn khác.
Tôi thấy vẫn còn hạn chế trong việc thu hút đầu tư vào hạ tầng du lịch ở các địa phương. Thứ nhất, một số địa phương chưa xác định du lịch là ngành mũi nhọn. Thứ hai, sự hạn chế trong phối hợp, công tác quy hoạch ở các địa phương chậm và chưa và đồng bộ. Thứ ba, cơ chế chính sách còn chung chung, chưa hấp dẫn đầu tư và hạ tầng du lịch. Thứ tư, các địa phương chưa phát hành được nhiều trái phiếu cho phát triển du lịch. Thứ năm, quản lý của một số địa phương chưa tốt. 
Trong bối cảnh ngân sách cho phát triển hạ tầng du lịch hạn chế, tôi cho rằng hình thức đối tác công tư (PPP) sẽ là nguồn vốn chủ lực để phát triển hạ tầng du lịch. Nghị định 15/2015 của Chính phủ có đề ra ưu tiên cho phát triển hạ tầng, nên các địa phương có thể bám sát vào đó để huy động vốn phát triển hạ tầng.
Ngoài ra, các địa phương có thể hỗ trợ giảm chi phí thu nhập cá nhân, giải phóng mặt bằng, hoặc lập hàng rào xung quanh. 
Nguồn vốn thứ hai để phát triển hạ tầng là ODA, nhưng đến nay chưa có nhiều địa phương sử dụng hình thức này. Thứ ba là vốn thông qua phát hành trái phiếu của địa phương. 
Ngoài ra còn một kênh hỗ trợ nữa là nguồn vốn từ các ngân hàng. Hiện nay tăng trưởng tín dụng bình quân đạt 14-15%/năm, các địa phương cần tạo điều kiện ngân hàng hoạt động tốt tại địa phương của mình, cũng cần tạo điều kiện tín dụng trong xử lý tranh chấp, phát mại tài sản... 
Nhà nước cũng có nguồn vốn phát triển hạ tầng, nhưng càng ngày càng hạn chế. Do đó những kênh như tôi vừa đề cập sẽ ngày càng đóng vai trò quan trọng.
Khó khăn trong triển khai hạ tầng du lịch
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Ở đây tôi muốn các vị trao đổi kỹ hơn về vấn đề xây dựng dự án giao thông theo hình thức BT. Xem thực thi việc thực hiện các dự án theo hình thức BT có vướng mắc gì không?
Ông Lê Thành Vinh – Tổng giám đốc Tập đoàn FLC: Những doanh nghiệp như FLC rất quan tâm đến vấn đề làm sao để đưa khách đến các khu du lịch. Chúng tôi đầu tư rất nhiều vào Thanh Hoá, Quảng Bình, nhưng hệ thống sân bay chưa đáp ứng được nhu cầu. Do vậy, vừa rồi chúng tôi đã ký với Vietjet Air để mở một đường bay từ Thanh Hoá đến Quy Nhơn. 
Các dự án BT mà chúng tôi làm là nguồn vốn thực sự quan trọng, chứ chờ Nhà nước không biết đến bao giờ. 
Chẳng hạn như dự án đường Hồ Xuân Hương ở Thanh Hoá chẳng hạn. Ban đầu FLC cũng được đề xuất là sẽ tài trợ cho tỉnh thực hiện dự án đó, nhằm dẹp bỏ khả năng xảy ra nạn chặt chém, tạo cơ hội để phát triển đồng bộ. Ngoài việc các khách sạn ở dọc đường Hồ Xuân Hương hưởng lợi thì FLC chúng tôi cũng hưởng lợi. Sau đó, lãnh đạo Tỉnh đã quyết định xây dựng dự án này theo hình thức BT. 
Ông Lê Thành Vinh – Tổng giám đốc Tập đoàn FLC
Cái được đã rõ rồi, hạ tầng từ Thanh Hóa đến Sầm Sơn phát triển vượt bậc, hiệu ứng rất cao. Khách đến Sầm Sơn bây giờ sẽ được nghỉ ở rất nhiều khách sạn mới, không còn cạnh tranh từ bên ngoài do sự lộn xộn đã được dọn dẹp.
Một số địa phương như Quảng Ninh cảm thấy bất ngờ trước việc Thanh Hóa đã thu hút rất nhiều khách du lịch trong thời gian qua. 
Hiện nay, FLC khai thác một khách sạn trên 1.000 phòng tại Sầm Sơn, nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu và luôn trong tình trạng “cháy phòng”. Mùa du lịch năm nay, chúng tôi đưa vào sử dụng thêm một khách sạn 15 tầng, với gần 600 phòng nữa, đơn giản vì có cầu. 
Do đó, có thể thấy dự án BT đã phát huy được hiệu quả, thu hút được nhiều khách du lịch đến Sầm Sơn.
Ngoài ra, chúng tôi còn có các dự án tại Khánh Hoà, Bình Định. Mặc dù chưa chính thức hoàn toàn nhưng chúng tôi cũng đã xây một phần đường từ sân bay về thành phố, giúp lộ trình về thành phố và dự án của FLC thuận lợi hơn. Chúng tôi chưa tính toán có thu được tiền ngay không nhưng chúng tôi nhìn thấy cơ hội thì làm.
Về đường điện, FLC đã thành công trong việc hợp tác với tỉnh để ứng vốn thực hiện. Chúng tôi bỏ tiền xây dựng sau đó cấn trừ vào tiền sử dụng điện sau đó, tương tự như vậy, chúng tôi cũng làm đường nước. Chờ địa phương thì lâu. 
Chúng tôi đến Bình Định, đường đưa vào tận dự án, chúng tôi đến thấy như vậy là rất tốt, thế nên chỉ đổ tiền vào xây luôn khách sạn.
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Các doanh nghiệp gặp khó khăn gì nhất trong việc triển khai dự án BT?
Ông Lê Thành Vinh: Nghị định 15 về đầu tư theo hình thức hợp tác công tư có cải thiện so với trước nhưng nhiều cái cũng “bí” lắm. Như danh mục thực hiện dự án BT chẳng hạn, tôi cho rằng nên mở rộng hơn. Tôi cho rằng không việc gì phải hạn chế, Nhà nước không làm thì tư nhân làm. Có nhiều dự án phục vụ cho hạ tầng phát triển du lịch mà không được làm.
Ngoài ra, thủ tục thực hiện đấu thầu cũng khá đau đầu. Những doanh nghiệp đầu tư lớn họ tâm niệm phải quay vòng vốn nhanh. Bây giờ chúng ta đã có chu kỳ phát triển rất cao về bất động sản nghỉ dưỡng, nếu chậm cơ hội thì sẽ mất. Nhưng thủ tục lại phức tạp, mất thời gian quá.
Ông Nguyễn Văn Phúc: Nghị định 15 ban hành năm 2015, các dự án BOT có được bước tiến về đầu tư. Thời gian thực hiện Nghị định 15 chưa lâu để đánh giá toàn diện. Thông qua các đoàn giám sát mà tôi tham gia, có nhiều ý kiến cho rằng cần nâng nghị định lên thành một đạo luật. Nghị định liên quan đến đầu tư công, đấu thầu, mà hiện nay chưa có hình thức lựa chọn nhà đầu tư.
Do đó, họ đều mong muốn nâng Nghị định 15 lên thành một đạo luật. Qua thực hiện, tôi biết có nhiều bức xúc, đó là các đề xuất của doanh nghiệp và địa phương. Nhưng hiện nay, tôi biết Quốc hội chưa có chương trình xây dựng luật này. 
Cần quy hoạch để mở rộng đầu tư
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Chúng ta đã có chủ trương thu hút vốn nước ngoài vào giao thông vận tải theo hình thức PPP. Đến nay chưa có dự án nào thu hút được nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào ngành này theo hình thức PPP. Trong quá trình sửa đổi, cần điều chỉnh các chính sách để mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư và tạo thuận lợi hơn.
Hiện nay Chính phủ đang kêu gọi đầu tư tư nhân vào cơ sở hạ tầng hàng không, mở rộng hoặc xây mới sân bay. Lâu nay một số sân bay như Tân Sơn Nhất bị tắc nghẽn hoặc một số địa phương xa cần có sân bay. Quá trình này được thực hiện như thế nào, và cần có khuyến nghị nào?
Ông Lương Hoài Nam: Vừa rồi ông Quốc Anh có cho biết đầu tư vốn vay cho hạ tầng ngày càng hạn hẹp. Tôi nghĩ vai trò của Nhà nước là có cơ chế chính sách đúng chứ không cần phải lo vốn dự án này, dự án kia. 
Hạ tầng du lịch resort thì tư nhân làm hết, Nhà nước không cần quan tâm. Vấn đề là làm sao để tư nhân thực hiện dự án một cách thuận lợi, không vướng mắc. 
"Tư nhân Việt Nam thừa sức đầu tư nếu Nhà nước có cơ chế chính sách hợp lí"
Còn mảng sân bay, cảng biển tôi nói luôn tư nhân Việt Nam thừa sức đầu tư nếu Nhà nước có cơ chế chính sách hợp lí. Vấn đề là nhà nước có quy hoạch cho người ta làm hay không, có tạo thuận lợi cho người ta làm hay không. Sân bay hay cảng biển vài chục nghìn tỷ tư nhân hoàn toàn có thể làm được việc. 
Lâu nay người ta nghĩ theo hướng Nhà nước phải làm, tư nhân không được thì điều này cần phải thay đổi quan điểm đi.
Ông Lê Đăng Doanh: Xin ngắt lời anh Nam một chút, tôi cho rằng, Nhà nước phải bỏ cơ chế xin cho, và tăng tính minh bạch.
Ông Lương Hoài Nam: Chắc chắn nếu còn tiếp tục cơ chế xin cho thì chả ai làm được, tư nhân là phải đầu hàng. Miễn là Nhà nước tạo điều kiện, hành lang pháp lý cho tư nhân làm thì họ sẽ làm được hết.
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Liệu lĩnh vực hàng không có đặc điểm gì riêng đối với các ngành khác? Tôi vẫn có quan điểm hàng không liên quan đến an ninh quốc gia, vậy tư nhân làm làm được không?
Ông Nguyễn Văn Phúc: Tôi đã tham gia vào việc xây dựng nhiều văn bản hàng không. Tôi gần đây có giúp Ủy ban Kinh tế chủ trì thẩm định dự án Sân bay Quốc tế Long Thành. 
Gần đây tôi thấy có quan điểm đổi mới về đầu tư vào hàng không. Trước đây, ngành hàng không thuộc về Quân đội, nhưng dần đây đã chuyển giao dần sang cho nhiều công ty dân sự và tư nhân. 
Vấn đề sân bay lưỡng dụng cũng cởi mở hơn. Trong 5.000 ha dành cho xây dựng sân bay Long Thành, có 1.500 ha dành cho Quân đội để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ sân bay. Ngay ở sân bay Tân sơn Nhất, vẫn có một phần đất dành cho Quân đội.
"Tư nhân đã bắt đầu đầu tư vào hạ tầng sân bay", ông Nguyễn Văn Phúc nói.
Vấn đề lưỡng dụng trong sân bay như thế nào? Hiện nay chỉ quy định Công ty Quản lý bay (kiểm soát không lưu) do Nhà nước nắm 100% vốn. Ngành vận tải đã cổ phần hóa, như Vietnam Airlines, nhưng Nhà nước vẫn nắm chi phối. Còn tư nhân đã bắt đầu đầu tư vào hạ tầng rồi, như đường lăn, nhà ga. 
Điều Nhà nước bây giờ quan tâm là đường băng và đường lăn. Tư nhân chưa mặn mà đến những cái này do không có lợi nhuận. Tư nhân họ quan tâm đến nhà ga, vận tải…  
Tôi đã tham gia nghị quyết Quốc hội về chủ trương xây dựng dự án sân bay Long Thành, trong đó có rất nhiều nguồn vốn, tất cả đều được ghi rõ hình thức đầu tư như thế nào. Nghị quyết cũng định hướng chỉ một phần vốn Nhà nước thôi, còn lại rất nguồn vốn khác nhau.
Ông Vũ Văn Thanh: Ở Vân Đồn thì Sungroup họ cũng sẽ làm sân bay, ông Đào Hồng Tuyển - Tuần Châu cũng làm cảng biển Quảng Ninh. Tôi xin nhắc lại Nghị quyết Đại hội Đảng 12, nhà nước khuyến khích phát triển tư nhân làm hệ thống giao thông.
Ông Lương Hoài Nam: Tự do hoá cái phi nhà nước trong vận tải hàng không đã và đang xảy ra, trừ quản lý bay, quản lý bầu trời thì không được, nhà nước phải quản lý cái này. 
Vận tải hàng không đã tự do hoá chưa? Vietjet là hãng tư nhân 100% và bây giờ họ đang cạnh tranh rất hiệu quả.  
Vấn đề rắc rối hơn là hạ tầng sân bay, mới bắt đầu tư nhân hoá rồi. Hiện đã có dự án tư nhân 100% là dự án sân bay Vân Đồn của SunGroup, theo tôi được biết, họ cũng đang xin đầu tư sân bay Lào Cai.
Khó khăn hiện nay không phải là năng lực nhà đầu tư mà Nhà nước cần quy hoạch nhiều sân bay để mở ra cơ hội đầu tư, hiện Việt Nam mới có 21 sân bay trong khi Thái Lan có 48, Philippines có tới 70 sân bay, dù hai nước họ nhỏ hơn Việt Nam.
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Hiện nay Việt Nam có 21 sân bay. Quy hoạch sân bay hiện nay đã ổn chưa?
Ông Vũ Văn Thanh: Đủ hay không thì phụ thuộc vào nhu cầu. Chính sách của chúng ta phụ thuộc vào nhu cầu dịch vụ và vận tải. Nhu cầu phải được dự báo trước, chứ không chỉ phụ thuộc vào hiện tại.
Chúng ta đã quy hoạch 21 dự án sân bay. Sân bay chiếm nhiều diện tích và nguồn vốn. Chúng ta cần liệu nguồn vốn của mình đến đâu để chúng ta cần cân nhắc để thực hiện quy hoạch này.
"Quyết tâm đồng hành của tỉnh cùng với doanh nghiệp rất quan trọng"
Ông Lê Thành Vinh: Nói về câu chuyện quyết định đầu tư, nhiều người làm du lịch thường quan tâm xem địa điểm đó đã là điểm đến du lịch chưa. Khi FLC đầu tư vào Hạ Long, không nhiều người đặt câu hỏi vì đây vốn đã là điểm đến. Sầm Sơn và Quy Nhơn thì khác, đây là những điểm chưa được khai thác nhiều. 
Khi xem xét đầu tư vào địa điểm nào, chúng tôi đánh giá tiềm năng trước, cả ngắn hạn và dài hạn. Như ở Thanh Hóa chúng tôi đã quyết định rất nhanh. Chủ tịch HĐQT Tập đoàn FLC Trịnh Văn Quyết sau 10 năm quay lại Thanh Hóa thấy đường tắc kinh khủng, nên nhận thấy tiềm năng ở đây rất lớn. 
Trước khi đầu tư vào Quy Nhơn, FLC nhận thấy tỉnh này có bờ biển quá đẹp, khí hậu cho phép khai thác bốn mùa, và văn hóa đa dạng để giữ chân khách ở lại lâu.
Một là địa phương phải có tiềm năng. Hai là tư duy du lịch của con người, của bộ máy chính quyền ở đó. Ở Bình Định, người dân dễ mến, hiền hoà lắm, đó chính là hạ tầng mềm. 
Bên cạnh đó, bộ máy chính quyền chính là yếu tố quan trọng hàng đầu, hệ thống chính quyền phải cho nhà đầu tư thấy họ có tư duy đúng về du lịch, đặt du lịch vào trọng tâm phát triển, cho thấy tầm nhìn, mục tiêu phát triển du lịch rõ ràng. Bên cạnh đó phải có sự đoàn kết, ổn định trong chính quyền, họ phải có quyết tâm rất cao thực hiện cùng doanh nghiệp. 
Một trong nguyên tắc “5 không” của FLC khi đầu tư là "không xin", tức chúng tôi không đi xin dự án, tỉnh mời và thể hiện đủ quyết tâm thì chúng tôi sẽ làm.
Anh em chúng tôi hay nói vui, làm bất động sản nghỉ dưỡng như chúng tôi giống như cầm một cốc nước đến một nơi hoang hoá, không biết đổ bao nước cho đầy. Quyết tâm đồng hành của tỉnh cùng với doanh nghiệp rất quan trọng. Khi chúng tôi đã đổ nước rồi, chính quyền hãy bảo vệ chúng tôi. 
Câu chuyện về thủ tục hành chính rất nan giải. Tỉnh nào làm tốt thì thu hút được vốn tư nhân. Tôi muốn chia sẻ quan điểm về đúng luật và lách luật. Nếu làm đúng luật mà lách được cơ chế rườm rà thì cần được hoan nghênh.
"Hệ thống chính quyền phải cho nhà đầu tư thấy họ có tư duy đúng về du lịch"- ông Lê Thành Vinh, Tổng giám đốc FLC
Ở nhiều tỉnh chúng tôi đầu tư họ đang tư duy như vậy. Nhiều lãnh đạo tỉnh nói với chúng tôi rằng Tỉnh ủng hộ hết mình việc doanh nghiệp phối hợp với Sở Kế hoạch đầu tư áp dụng những gì luật không cấm. Điều đòi hỏi ở lãnh đạo tỉnh là họ thực sự lắng nghe, làm sao xây dựng được cơ chế thông thoáng cho đầu tư.
Một ví dụ là đấu thầu sử dụng đất. Ở những dự án nhỏ, điều này đơn giản, nhưng với những dự án cực lớn, việc đấu thầu rất khó khăn. Do vậy, tỉnh cần vận dụng luật làm sao để tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư. 
Tỉnh Quảng Bình họ rất quyết tâm làm, họ sẵn sàng giải phóng mặt bằng rất nhanh. FLC đi đâu tìm cơ hội đầu tư đều muốn lãnh đạo tỉnh chuẩn bị sẵn sàng mặt bằng sạch rất nhanh. Nếu giải phóng mặt bằng chậm thì khó có thể đầu tư. 
Do đó, tỉnh phải thực sự quyết tâm làm, nhất là ở thời buổi hiện nay. Có thể sẽ có một số bộ phận dân có kiến nghị, nhưng cần nhìn vào đại cục. 
Một điều khác chúng tôi coi trọng là bảo hộ đầu tư. Chúng tôi bỏ nhiều tiền, 5.000-7.000 tỷ ở Thanh Hóa, Quy Nhơn, nếu không bảo hộ thì chúng tôi không đầu tư được. 
Còn một cái quan trọng khác là quyết tâm của tỉnh trong việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong vấn đề hạ tầng giao thông. 
Doanh nghiệp bỏ hàng nghìn tỷ rồi thì Nhà nước cũng phải tạo cơ chế chứ, nếu Nhà nước không làm được thì cho tư nhân làm. Nếu địa phương không đồng hành thì doanh nghiệp không bao giờ làm được. Đó là mong muốn của FLC. 
Những nơi chúng tôi chọn tiềm năng có thể ngắn hạn và dài hạn. Để quyết định đầu tư, chúng tôi đã tính toán kỹ. Cứ tìm đến những nơi đã đông đúc nhà đầu tư thì cũng không hiệu quả.
Hạ tầng thúc đẩy du lịch như thế nào?
Ông Nguyễn Văn Phúc: Theo quan sát của tôi, trường hợp của FLC Bình Định là một trường hợp thú vị về phát triển du lịch và phát triển hạ tầng liên quan đến du lịch. 
Trước đó FLC định phát triển khu công nghiệp, theo chủ trường nhà nước sẽ đầu tư đến hàng rào hạ tầng. Tuy nhiên, Bình Định sau đó quyết định không phát triển công nghiệp nữa nên FLC làm hạ tầng nghỉ dưỡng. 
Chính sự phát triển du lịch tăng trưởng mạnh, nhà ga rất bé không thể đáp ứng được nhu cầu nên hiện nay Bộ giao thông chủ trương mở rộng nhà ga, tạo xu hướng tác động rất thú vị.
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Hạ tầng gắn với khu du lịch rất lớn, để đảm bảo lượng khách, thì sân bay đến một lúc nào đó cũng phải nâng cấp mới đáp ứng được. Hạ tầng không theo kịp thì có ảnh hưởng gì đến sự đầu tư của doanh nghiệp?
Ông Lê Thành Vinh: Doanh nghiệp sẽ rất bị ảnh hưởng nếu hạ tầng không theo kịp. Các tỉnh nên lưu ý về bài toán công suất. Điều này rất quan trọng. Ví dụ như ở Bình Định, lúc đầu họ tính toán chỉ thu hút 1,5 triệu khách du lịch, do đó sử dụng nhà ga là đủ. Sau đó, họ không ngờ khi sau khi FLC vào thì kéo theo rất nhiều lượt khách du lịch, Tỉnh phải tính toán lại lên mức mục tiêu 2,5 triệu lượt khách.
Ông Lương Hoài Nam: Tôi không quên được kỉ niệm cách đây vài chục năm. Nhà tôi bị ngập lụt lớn, khi đó, Chủ tịch tỉnh Bình Định đã cắp nách giày, xắn quần tìm đến nhà tôi và nhờ: Tìm cách mở đường bay từ Quy Nhơn đến Đà Nẵng. Ước mơ lúc đó đơn giản vậy thôi. 
Còn bây giờ đã có đường bay từ Quy Nhơn đến Hà Nội rồi, và trong tương lai sẽ có đường bay nối đến các nước khác.
Chúng ta cần có cách tiếp cận khác đối với hạ tầng hàng không, cần đa dạng hóa đầu tư vào hạ tầng hàng không, ít nhất là nhà ga, để làm sao tư nhân đầu tư vào đó.
Ngoài ra cần có chủ trương cho thuê hạ tầng hàng không. Tôi nghĩ FLC thừa sức làm. Nhà nước lâu nay đầu tư dùng vốn ngân sách là chính, nhưng khi vừa xây dựng xong sân bay thì công suất lại hết rồi.
Ông Nguyễn Trần Nam: Nhà ga T2 sân bay Đà Nẵng là do một nhà đầu tư tư nhân làm – Taseco. Tôi thấy nhà ga T2 này còn to hơn, đẹp hơn T1, mặc dù công suất vẫn ở mức 5 triệu khách/năm.
Theo quy hoạch, đến năm 2020 Đà Nẵng sẽ đón 5 triệu khách/năm, nhưng đến năm vừa rồi lượt khách đến đây đã vượt 5 triệu, quy hoạch phá sản là ở chỗ đó.  
Nhà ga T2 này tới tháng 5 này khánh thành, một dự án do tư nhân thuê đất đầu tư và rất hiệu quả, họ làm rất nhanh, rất đẹp, không cần vốn nhà nước, họ cũng đang đệ đơn làm sân bay Thống Nhất.
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Vai trò của các khu nghỉ dưỡng đối với ngành du lịch của chúng ta ra sao? Các thành viên của Hiệp hội Bất động sản có vướng mắc gì khi triển khai các dự án ở các bãi biển hay không?
Ông Nguyễn Trần Nam: Tiềm năng du lịch của chúng ta rất lớn. Năm ngoái, khách nội địa của chúng ta là 62 triệu. Dân mình rất “máu” đi du lịch. Nếu nhà nước bắc cầu, mở rộng giao thông thì khách đi du lịch rất nhiều. Vấn đề là cách mình khai thác tiền của khách như thế nào, như thông qua các cửa hàng, hoạt động văn hóa…
Tôi là người Hà Nội nhưng không hài lòng với cách làm du lịch ở đây. Sài Gòn người ta sống về đêm, Đà Nẵng có cầu Rồng chiếu sáng rất lung linh, Cần Thơ cũng có cây cầu chiếu sáng rất đẹp, nhưng ở Hà Nội thì tối om. Chỉ chiếu sáng được mấy ngày Tết rồi lại tắt ngóm. Dân không đi chơi về đêm thì lấy đâu ra nguồn thu.
Vừa rồi Hà Nội có chủ trương nới giờ giờ nghiêm, tôi cho đó là rất hợp lý. Nhiều hôm đi đêm thấy có người ăn bát phở cũng phải chạy vì giờ giới nghiêm, lấy đâu ra nguồn thu. 
Hiện nay có rất nhiều quan điểm cho là Việt Nam nhiều resort quá. Tôi thì không có số liệu cụ thể nhưng về mặt cảm tính thì tôi thấy hạ tầng du lịch trực tiếp của mình, các tổ hợp phức hợp khu du lịch vui chơi của mình chưa ăn thua gì so với thế giới. 
Theo tôi, cảm nhận của tôi số lượng phòng khách sạn 5 sao của mình cũng chưa ăn thua gì cả.
Đặc biệt những tổ phức hợp lớn như FLC, Vingroup làm thì có thể kéo cả tỉnh trở nên nổi tiếng vì du lịch, như Bình Định. 
Nhưng có một điều liên quan đến các chuyến bay đến tỉnh. Hầu như mỗi hãng chỉ có một hai chuyến, mà giờ giấc lại khó khăn. Ví dụ chuyến bay Quy Nhơn bay 7 giờ, thì phải dậy từ 4 5 giờ để chuẩn bị. Giờ bay không hợp lý cũng dẫn đến mất khách. Thứ hai là tần suất bay. Hiệp hội chúng tôi tổ chức một hội nghị ở Bình Định 300 khách ngay lập tức xảy ra tắc nghẽn, phải xin thêm chuyến. 
Tôi nghĩ hạ tầng còn rất thiếu nên phải tiếp tục quy hoạch. Tôi biết khu FLC Quy Nhơn có rất nhiều doanh nghiệp đang muốn phát triển “ăn theo” dự phát triển của FLC, nhưng đó cũng là điều tốt cho tất cả, vì buôn có bạn, bán có phường. 
Như Vingroup cũng là một doanh nghiệp có công lớn trong việc xây dựng được nếp sống thị dân, những ai từng đến sống ở Royal, Time City đều có thể cảm nhận một lối sống văn minh. Chúng ta phải có những khu sang trọng mới có khách sang đến.
Tôi từng đi dự hội nghị của FLC ở Thanh Hóa, ông Trịnh Văn Quyết tuyên bố sẽ làm dự án ở Sầm Sơn trong 12 tháng. Tôi lo lắm, nếu không làm được thì sẽ rất mất mặt với các quan khách, có cả các vị ở Bộ Chính trị. Nhưng sau đó FLC đã hoàn thành dự án đó trong 11 tháng. Rồi dự án ở Quy Nhơn với quy mô lớn như vậy cũng được triển khai trong vòng gần một năm.
Ông Lương Hoài Nam: Tôi đưa ra các con số để biết chúng ta thừa hay thiếu khách sạn, resort. Năm ngoái, Việt Nam đón được 10 triệu khách quốc tế. Năm ngoái Singapore đón 20 triệu khách. HongKong đón 25 triệu, Thái Lan đón 30 triệu. Như vậy, 10 triệu khách của VN bằng 1/2 Singapore, bằng 2/5 HongKong, bằng 1/3 Thái Lan. Nhưng đó mới chỉ là con số du khách vào. 
Báo chí vừa đưa ra một con số đau lòng, là TP.HCM đang muốn thu hút 7 triệu khách quốc tế, nhưng một sự thật đau lòng là thành phố này không giữ được khách du lịch quá 3 ngày. Nếu như thời gian tới đây nếu giữ được 5-7 ngày thì lấy đâu ra phòng. Nói số phòng, resort của ta nhiều thì không đúng. Cái tôi lo đối với các doanh nghiệp không phải là họ không có tiền đầu tư. Họ có thể, nhưng làm sao để có khách đến, đó mới là vấn đề lo ngại.
Nếu không có khách đến thì lúc đó mới là gay go. Nhiều khi chúng ta không hiểu đúng khách hàng, không hiểu họ muốn gì mà đáp ứng. 
Khi bàn về câu chuyện visa, nhiều người nói bỏ đi thì khó quá, có thể giảm từ 45 xuống 25 USD, nhưng tôi nói thế này, những người giàu, 45 hay 25 USD không quan trọng, điều quan trọng là họ không muốn có thủ tục này.
Chúng ta vẫn nói thế mạnh của du lịch Việt Nam là ẩm thực, nhưng tôi hiếm thấy ai quyết định điểm đến mà dựa vào ẩm thực địa phương. Chúng ta phải hiểu cho đúng nhu cầu và đáp ứng nhu cầu đó thì mới phát triển được.
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Quy hoạch đầu tư vào các khu du lịch nghỉ dưỡng cần phải tính toán như thế nào. Có những lúc chúng ta nghĩ cần phải đầu tư sân bay trước và cơ sở hạ tầng sau, nhưng sau đó đầu tư vào cơ sở hạ tầng lại kéo theo nhu cầu đầu tư vào sân bay. Đây là câu chuyện “con gà và quả trứng”. 
Chúng ta đang có ước mơ giữ khách du lịch nước ngoài 3 ngày, rồi câu chuyện giải trí, casino đang rất được quan tâm. Xin các diễn giả nhận định về chủ trương phát triển casino đã phù hợp chưa?
Ông Nguyễn Văn Phúc: Casino thuộc kinh tế dịch vụ tài chính, tôi thấy trước đây casino đi từ thí điểm, đầu tiên có ở Đồ Sơn, rồi ở Móng Cái hầu như đều cho người nước ngoài, bây giờ Chính phủ đã ban hành nghị định với những điều kiện để đầu tư. 
Tôi cho rằng điều đó là đúng hướng, bởi trong điều kiện này kể cả không cho người dân đánh bạc thì người ta cũng đi ra nước ngoài để đánh. 
Bộ Chính trị có chủ trương và vừa rồi có quy định các trò chơi có thưởng trong đó có quy định đua chó, đua ngựa, tuy nhiên, các quy định này ban hành còn khá chậm.
Ông Lương Hoài Nam: Tôi cho rằng chính sách cần xuất phát từ thực tế. Việc người Việt vào casino, có thể nhiều người không thích. Nhưng dù muốn công nhận hay không thì đó là thực tế rồi. Ham mê cờ bạc nhất thế giới thì có người Việt, người Tàu. Sang Mỹ, Macao, Campuchia thì thấy người Việt, người Tàu rất nhiều. Chúng ta không cho người Việt vào casino ở Việt Nam thì họ lại vác tiền sang Campuchia, Macao… để đánh bạc. Giờ một vé máy bay trăm USD sang Singapore chơi bạc không là gì cả, chi phí vé ô tô qua biên giới Tây Ninh thì còn rẻ hơn nữa.
Ông Nguyễn Anh Tuấn: Kính thưa quí vị, hạ tầng du lịch và Nghị quyết 08 là các vấn đề mà chính báo chí cũng phải hiểu thêm rõ. Xin cám ơn các chuyên gia về những chia sẻ quý báu này.

BIZLIVE