Dự án FDI tỷ đô bỏ hoang: Địa phương làm cho vui?

Vũ Lan

08:54 26/10/2015

Hàng trăm tỷ đô đang nằm chết là sự lãng phí vô cùng lớn. Nếu nền kinh tế có được khoảng 25-50% nguồn vốn này chắc chắn sẽ khác.

Dự án FDI tỷ đô bỏ hoang: Địa phương làm cho vui?

Ông Phan Hữu Thắng.

Ông Phan Hữu Thắng – Nguyên Cục trưởng Cục đầu tư nước ngoài (Bộ KHĐT) chia sẻ với PV

PV:- Thưa ông, gần đây, hàng loạt dự án FDI tỷ đô bỏ hoang khiến địa phương phải kêu cứu vì không đạt chỉ tiêu tăng trưởng. Điển hình như Quảng Ngãi mới đây. Theo ông, đâu là nguyên nhân?

Ông Phan Hữu Thắng: Tới nay dù chưa có thống kê đầy đủ nhưng cũng dự tính nguồn vốn FDI nằm “chết” nhiều năm liền phải lên tới cả trăm tỷ đô. Đây là sự lãng phí vô cùng lớn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển của nền kinh tế.

Vậy đâu là nguyên nhân? Tôi cho rằng, có rất nhiều nguyên nhân và nó chia đều cho cả phía thu hút đầu tư, cơ quan quản lý lẫn phía chủ đầu tư.

Phải thừa nhận, ngày càng nhiều các dự án FDI bỏ hoang, chậm triển khai là hệ quả đã được dự báo trước. Lỗi này thuộc về phía cơ quan quản lý.

Ở đây là công tác thẩm định dự án và tương lai dự án chưa tốt. Rất nhiều dự án cho thấy giữa vốn đăng ký với vốn thực hiện đã có một khoảng chênh rất lớn. Có khi lên tới cả trăm tỉ đô/một dự án và hầu hết đang nằm ở những dự án chậm triển khai, dự án bị bỏ hoang như ở Quảng Ngãi, Vính Phúc, Khánh Hòa vừa qua.

Đáng nói, đây là yếu kém đã tồn tại từ nhiều năm nhưng vẫn không có một động thái kiên quyết, không có biện pháp xử lý triệt để. Vì thế, số dự án bỏ hoang năm cũ lại gối sang năm mới, cứ mỗi ngày một tăng.

Thứ hai, chính sách, môi trường đầu tư tại VN cũng chưa thật sự thuận lợi. Nhất là trong công tác giải phóng mặt bằng. Sự chậm trễ trong giao đất, giao mặt bằng, thủ tục hành chính phức tạp, rườm rà nhiều khi đã làm mất cơ hội của nhà đầu tư.

Về phía nhà đầu tư, cũng có khi phải chịu rủi ro từ sự suy giảm kinh tế thế giới nói chung. Công ty mẹ khi mạnh, khi suy cũng là lý do thay đổi ý đồ đầu tư vào VN của nhà đầu tư.

Cũng có khi, dự án đầu tư ban đầu có quy mô lớn nhưng phía VN lại không đáp ứng được về nhân công, địa điểm… cũng là lý do khiến nhà đầu tư phải co lại quy mô dự án.

Tóm lại, nguyên nhân chính là do biến động thị trường cung – cầu thay đổi; năng lực nhà đầu tư thay đổi và vấn đề quản lý, giám sát, thẩm định chất lượng dự án không sát thực tế.

Theo thông lệ quốc tế, việc này có thể được chấp nhận. Vấn đề của VN là làm sao để giảm thiểu những rủi ro này.

PV:- Các nước khác có gặp phải vấn đề như của VN không? Điều gì khiến Việt Nam gặp khó khăn hơn các nước trong việc xử lý thực trạng này, thưa ông?

Ông Phan Hữu Thắng: Ở nước ngoài, công tác quản lý của họ rất tốt vì thế mà dự án bỏ hoang thì có nhưng không phổ biến như VN. Đến mức cả trăm tỷ đô chảy vào VN nhưng bao nhiêu năm không triển khai được, không thực hiện được gì thì đúng là quá lớn.

Theo tôi, nếu rút được khoảng 50% số vốn đang “nằm chết” để đưa vào nền kinh tế thì diện mạo nền kinh tế cũng sẽ khác. Bây giờ chính là trách nhiệm của các Sở Kế hoạch đầu tư, các ban quản lý dự án, chủ đầu tư... phải rà soát nghiêm túc các dự án. Làm rõ khó khăn, vướng mắc.

Việc này rất đơn giản, vấn đề là địa phương có muốn làm hay không. Làm thật hay chỉ làm cho vui. Nhiều khi bận việc khác mà lại quên đi rồi đâu lại vào đấy.

PV:- Ông có nói tới hậu quả rất nghiêm trọng một khi dự án bị bỏ hoang, đồng vốn nằm chết, ngân sách lại thiếu tiền… cụ thể như thế nào, thưa ông?

Ông Phan Hữu Thắng: Về nguyên tắc, để làm hấp dẫn thêm môi trường thu hút đầu tư vốn nước ngoài, bao giờ ngân sách và địa phương cũng phải bỏ ra một nguồn không nhỏ để xây dựng đường xá, cầu, cảng, đường điện… Tức là đã có một nguồn lực không nhỏ được đầu tư vào đây nhưng dự án lại không thực hiện được, không tạo ra giá trị gia tăng. Nguồn vốn đổ vào là vốn chết.

Nghiêm trọng hơn, khi dự án được phê duyệt đầu tư, công tác giải phóng mặt bằng đã thực hiện nhưng chủ đầu tư “bỏ trốn” dẫn tới việc đất bỏ hoang, người dân không canh tác được. Trong khi đó, ngân sách lại đang gặp khó khăn, nền sản xuất thiếu tiền là vô cùng lãng phí.

PV:- Trong bối cảnh, nợ công VN tăng nhanh, thu không đủ bù chi, chúng ta phải nhìn nhận và rút ra bài học như thế nào từ sự rút lui của các doanh nghiệp FDI?

Ông Phan Hữu Thắng: Có hai vấn đề cần phải rút ra từ thực tế này. Thứ nhất, VN cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật, chính sách về đầu tư, từ nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quy hoạch và hướng các dự án FDI.

Cho tới phương thức xúc tiến đầu tư theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, theo từng ngành, lĩnh vực, khu vực, đối tác và theo quy hoạch ngành, lĩnh vực, khu vực đã được duyệt.
Thứ hai, tập trung hậu kiểm. Nâng cao năng lực thẩm định, cấp phép, quản lý. Thẩm định theo luật, tính rõ hiệu quả của dự án mới được cấp phép.
Để một dự án không hiệu quả vẫn được cấp phép không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng tới cả nhà đầu tư mà còn làm xấu cả môi trường đầu tư trong nước.
PV:- Nếu vậy, theo ông, có nên đặt vấn đề xem xét trách nhiệm của đơn vị cấp phép đầu tư trong việc này hay không?
Ông Phan Hữu Thắng: Về trách nhiệm, tôi cho rằng trách nhiệm chính vẫn thuộc về các đơn vị quản lý trực tiếp trên địa bàn. Trong quá trình cấp phép, mọi thủ tục đã được xem xét theo trình tự, quy trình, vấn đề là sau cấp phép công tác hậu kiểm, giám sát thực hiện như thế nào.
Sự chậm triển khai, không triển khai tại sao địa phương không nắm được, không nhắc nhở, không xử lý. Ở đây là khâu hậu kiểm.
PV:- Vậy phải giải quyết việc này thế nào thưa ông?
Ông Phan Hữu Thắng: Để giải quyết thực trạng này, đầu tiên phải thay đổi tư duy thu hút FDI. Siết chặt công tác quản lý. Làm thật chứ không phải làm chơi như trước đây nữa.
Qua đó, các địa phương và các bộ ngành, chủ đầu tư cùng tiến hành rà soát, phân loại các nhóm dự án trên địa bàn để có giải pháp xử lý cho phù hợp. Có thể phân loại thành 4 nhóm như sau:
Nhóm thứ nhất, loại dự án đã triển khai và đang thực hiện. Đối với nhóm dự án này, trên nền tảng các dự án đang hoạt động tốt, địa phương cần có nhiều hỗ trợ để DN hoạt động tốt hơn. Trong trường hợp, DN nào gặp khó khăn, địa phương cũng phải có giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho họ.
Bên cạnh đó, cũng phải có chính sách để DN trong nước được tham gia cùng phát triển.
Nhóm thứ hai, những dự án đã triển khai, đã thực hiện nhưng còn vướng mắc. Địa phương và chủ đầu tư phải ngồi lại với nhau, chỉ ra những khó khăn để cùng tháo gỡ.
Nhóm thứ ba, những dự án đã cấp phép có khả năng triển khai nhưng không triển khai được.
Và nhóm thứ tư, những dự án đã cấp phép, nhưng không có khả năng triển khai.
Đối với hai trường hợp này cần phải được xem xét một cách cụ thể. Nguyên nhân vì sao được cấp phép nhưng không triển khai hoặc không triển khai được? Vướng mắc do đơn vị cấp phép hay do chủ đầu tư? Do tác động mang tính liên kết, tức là khâu này chậm, khâu khác cũng chậm theo hay còn do tính toán thị trường chưa tốt dẫn tới phát triển ồ ạt, cung vượt cầu, mất cân đối… Dự án phải dừng…
Nếu xác định nguyên nhân do quản lý, chính sách thì phải tháo gỡ giúp DN. Nếu nguyên nhân do chủ đầu tư họ phải chịu trách nhiệm. Trong trường hợp, cần nới lỏng chính sách, tăng ưu đãi để doanh nghiệp phát triển, địa phương cũng nên cân nhắc.
Tôi phải nhấn mạnh việc rà soát cần phải làm thống nhất, đồng bộ từ trung ương tới địa phương, không thể để tình trạng ngẫu hứng, khi nơi này xin rút dự án, mai lại địa phương khác xin.
VN đang bước vào quá trình hội nhập quá sâu và quá rộng, vấn đề thu hút vốn không phải là vấn đề khiến tôi quá lo ngại. VN vẫn được đánh giá là môi trường đầu tư hấp dẫn, ổn định, dù thế nào dòng vốn FDI vẫn sẽ chảy vào VN trong thời gian tới. Theo thống kê, năm 2014 có hơn 20 tỷ USD được doanh nghiệp FDI "đổ" vào Việt Nam, với sức hấp thụ của nền kinh tế hiện tại được khoảng 11-12 tỷ USD (chiếm khoảng hơn 50% nguồn vốn FDI) như vậy, VN vẫn có khoảng gần 50% khoản vốn để gối đầu. VN hiện đã ở giai đoạn không phải thu hút bằng mọi giá, thu hút bằng được nữa mà cần phải thu hút có lựa chọn và thu hút cho hiệu quả.
'Biệt đãi' FDI: Nguy cơ tự rơi vào bẫy
PV:- Ông có lường trước được những khó khăn để giảm thiểu thiệt hại từ việc dễ dàng đón nhận dầu tư này này hay không?
Ông Phan Hữu Thắng:- Không thể phủ nhận vai trò của FDI đóng góp với nền kinh tế thời gian qua. Tuy nhiên, tôi luôn nhấn mạnh, thu hút phải có chọn lọc và phải đảm bảo đủ 3 yếu tố: Một là, vốn phải đi với công nghệ; hai là vốn phải đi với bảo vệ môi trường và thứ ba, vốn phải gắn liền với công tác an ninh quốc phòng. .
Nếu dễ dàng chấp nhận một dự án FDI mà không tính toán đầy đủ trong tương lai sẽ phải trả giá rất đắt. Cần ngăn chặn ngay từ đầu, tránh tình trạng chạy theo xử lý một dự án đã được cấp phép sai chủ đầu tư, không đạt yêu cầu, năng lực yếu kém… hậu quả sẽ rất khó lường.
PV:- Xin cảm ơn ông!

Theo Báo Đất Việt