Dự báo được cầu lao động chỉ là “chuyện nhỏ”?

Đ.T

06:21 02/04/2014

BizLIVE - Vấn đề các nhà quản lý và hoạch định chính sách có hợp tác, lắng nghe và làm theo dự báo của các nhà khoa học để cùng tìm ra giải pháp hay không mới là "chuyện lớn".

Dự báo được cầu lao động chỉ là “chuyện nhỏ”?

Nhiều cử nhân, thạc sĩ sau khi tốt nghiệp phải chật vật tìm việc. Ảnh minh họa.

Con số 72.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp trong quý IV/2013, cao gấp 1,7 lần so với cùng kỳ năm ngoái mà Bộ Lao động – thương binh và xã hội cùng Tổng cục Thống kê công bố ngày 21/3 đã khiến cho nhiều người bất ngờ trước thực trạng dư thừa nguồn cung lao động của Việt Nam, đặc biệt là lao động đã qua đào tạo.

TS. Nguyễn Minh Phong, chuyên gia kinh tế cho rằng: Đây là một con số rất đáng báo động cho thấy lao động, việc làm không tỉ lệ thuận với bằng cấp, đồng thời, xu hướng đào tạo của Việt Nam cũng không đáp ứng được yêu cầu thực tế.

Giáo dục vẫn theo định hướng cung

Mổ xẻ nguyên nhân tỉ lệ thất nghiệp của cử nhân, thạc sĩ cao, TS. Nguyễn Bá Ngọc, Viện Khoa học xã hội và lao động cho rằng: Có 4 nguyên nhân chính làm cho tỉ lệ cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp cao hơn tỉ lệ thanh niên khác:

Thứ nhất, bản thân người đi học vẫn nặng về tâm lý bằng cấp, cố gắng đạt được bằng đại học, thạc sĩ, thậm chí tiến sĩ nhưng lại không quan tâm đến nhu cầu thực sự của nền kinh tế gắn với tính cụ thể theo từng ngành nghề, từng vùng…

Thứ hai, hệ thống giáo dục đào tạo còn nhiều vấn đề bất cấp. Giáo dục nói chung vẫn theo định hướng cung. Nghĩa là đào tạo dựa vào đội ngũ giảng viên, giáo trình mà nhà trường có sẵn, trong khi, thực tế, thị trường cần ngành nghề gì, kỹ năng gì, kiến thức gì lại chưa đáp ứng được. Cho nên nhiều cử nhân, thạc sĩ được đào tạo ra khi đi phỏng vấn xin việc không đáp ứng được kiến thức, kỹ năng và đặc biệt là các phẩm chất theo yêu cầu của nhà tuyển dụng.

Thứ ba, công nghệ hiện đại ngày càng đòi hỏi trình độ đào tạo cao hơn, gắn với từng ngành nghề cụ thể. Nhiều bạn sinh viên vẫn chạy theo các ngành “nóng” nhiều năm trước đây mà không xét đến thực tế khi cơ cấu ngành đã thay đổi cũng như ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế,… Điều này đòi hỏi cần phải có một hệ thống thông tin thị trường lao động để tạo cơ sở cho người đi học chọn nghề.

Thứ tư, tâm lý xác định bền vững về nghề nghiệp của thanh niên còn yếu, vẫn theo xu hướng chọn nghề thời thượng, nghề được xã hội thừa nhận đánh giá cao,… mà chưa chọn nghề phù hợp với bản thân. Thậm chí nhiều thanh niên có nghề nghiệp ổn định rồi nhưng thấy thu nhập thấp hoặc cơ hội thăng tiến không nhiều… thì sẵn sàng nhảy việc dẫn đến sự bất ổn của thị trường lao động.

Ngoài ra, vấn đề kỹ năng mềm của nhiều cử nhân, thạc sĩ như thuyết trình, làm việc nhóm, tin học, ngoại ngữ và cả những phẩm chất nghề nghiệp (động cơ, thái độ, tác phong, hiểu biết về môi trường làm việc…) vẫn còn kém và chưa đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng.

Dự báo cầu lao động không có gì phức tạp?

Cách đây gần 5 năm Chính phủ đã chỉ đạo ngành giáo dục thực hiện chủ trương đào tạo theo nhu cầu xã hội, tức là dựa trên dự báo về nhu cầu của các ngành. Đây được xem là giải pháp tổng thể quan trọng để khắc phục tình trạng đào tạo tự phát không theo nhu cầu xã hội, nhằm khắc phục tình trạng vừa thừa vừa thiếu nhân lực ở các ngành nghề, vùng miền, ở các tổ chức, doanh nghiệp khó khăn trong sản xuất kinh doanh.

Nhưng cuối cùng giải pháp này cũng như không ít giải pháp được đưa ra dựa trên kết quả dự báo từ các hội thảo chuyên sâu khác đến nay vẫn chưa phát huy được nhiều hiệu quả, thậm chí còn khiến tình trạng này trở nên phức tạp hơn.

Điều này đặt ra câu hỏi: Phải chăng công tác dự báo của Việt Nam không thể đánh giá đúng được nhu cầu lao động thực của thị trường?

Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Văn Thuật, Trưởng ban nghiên cứu và phát triển ứng dụng công nghệ thông tin thuộc Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế xã hội quốc gia: “Dự báo cầu lao động cho thị trường không có gì quá phức tạp và hoàn toàn có thể làm được. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là các dự báo, giải pháp mà các nhà khoa học đưa ra liệu có được các nhà quản lý, hoạch định chính sách công nhận và làm theo hay không mới là điều quan trọng”.

TS. Thuật cũng cho rằng giải pháp cần thiết nhất hiện nay là các bộ có liên quan cần rà soát lại hết số lượng lao động dư thừa, xác định rõ được nguyên nhân dư thừa, cầu của nhà tuyển dụng để cùng ngồi lại với các nhà khoa học tìm ra tiếng nói chung trong giải quyết cung cầu lao động.

Bên cạnh đó, những cử nhân, thạc sĩ phải tự “cứu” mình trước, chấp nhận thử thách với cơ hội công việc khác nhau, dù có thể là làm việc trái chuyên môn hay có khó khăn.

Song về lâu dài, để tránh lặp lại tình trạng cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp sau khi ra trường như hiện nay, các chuyên gia xã hội khuyên rằng: Các em học sinh chuẩn bị rời ghế nhà trường phổ thông trung học, cần suy nghĩ, cân nhắc lựa chọn cho mình một nghề phù hợp với sở thích, khả năng, đam mê cũng như phù hợp với xu hướng phát triển nghề nghiệp và nhu cầu nhân lực của xã hội trong thời kỳ hội nhập.

Đ.T

Thăm dò ý kiến
Từ 1/1/2018 khi xăng A92 bị "khai tử", bạn sẽ sử dụng loại xăng nào?

Emagazine