Chất thải rắn đô thị: Giải pháp nào tháo gỡ bất cập?

Nhóm PV

06:29 19/11/2016

Xử lý chất thải rắn (CTR) đô thị đang là bài toán khó, làm đau đầu các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách. Mức thu phí vệ sinh thấp, ngân sách nhà nước phải bỏ ra hỗ trợ xử lý CTR khá lớn. Doanh nghiệp muốn đầu tư xử lý CTR khó tiếp cận vốn vay ưu đãi... là những vấn đề đang cần lời giải gấp khi mà tốc độ đô thị hóa của Việt Nam đang diễn ra chóng mặt.

Chất thải rắn đô thị: Giải pháp nào tháo gỡ bất cập?

Ảnh minh họa.

Sức ép CTR đối với đô thị

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên & Môi trường), hiện nay, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam ước tính khoảng 12,8 triệu tấn/năm, trong đó khu vực đô thị là 6,9 triệu tấn/năm (chiếm 54% ) lượng CTR, còn lại tập trung tại các huyện lỵ, thị xã, thị trấn.

Dự báo tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị đến năm 2020 khoảng 22 triệu tấn/năm. Lượng CTR đô thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị lớn là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.

Theo Cục Hạ tầng Kỹ thuật (Bộ Xây dựng), tính đến tháng 6/2016, cả nước có 797 đô thị với tỷ lệ dân số chiếm khoảng 35,7% tổng số dân, tức khoảng hơn 32,5 triệu người. Tổng lượng chất thải rắn (CTR) phát sinh tại các đô thị trên cả nước ước khoảng 38.000 tấn/ngày. Tỷ lệ thu gom CTR đô thị trung bình hiện nay khoảng 84%.

Trong khi rác thải sinh hoạt và đặc biệt là CTR ngày một gia tăng thì hoạt động thu gom, xử lý và tái chế vẫn chưa có hướng đi khả quan. Phần lớn CTR thu gom được xử lý bằng biện pháp chôn lấp. Nhưng nhiều bãi chôn lấp không hợp vệ sinh, không có hệ thống thu gom, xử lý nước rỉ rác, khí thải đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường (ô nhiễm không khí, đất, ô nhiễm nguồn nước và cảnh quan môi trường xung quanh) và chiếm diện tích đất lớn.

Cục Hạ tầng kỹ thuật cho biết, hiện cả nước có khoảng 35 nhà máy xử lý CTR tập trung tại các đô thị, được đầu tư xây dựng và đi vào vận hành với tổng công suất xử lý theo thiết kế khoảng 7.500 tấn/ngày (tăng khoảng 3.600 tấn/ngày so với năm 2012). Các công nghệ xử lý chủ yếu là sản xuất phân compost (25 cơ sở), đốt (4 cơ sở) và kết hợp.

Nhiều địa phương đã chủ động trong việc kêu gọi đầu tư, đầu tư xây dựng các cơ sở xử lý CTR và đưa vào vận hành. Có thể kể đến như: TP Hà Nội có nhà máy đốt rác bằng công nghệ lò đốt Martin công suất 300 tấn/ngày, vốn đầu tư 270 tỷ đồng. Tỉnh Bình Dương có nhà máy xử lý chất thải rắn thành phân compost, công suất 420 tấn/ngày tại Nam Bình Dương (vốn ODA Phần Lan). Nhà máy xử lý rác thải tại quận Ô Môn, TP Cần Thơ, công suất 300 tấn/ngày, công nghệ đốt. Thành phố Lào Cai có nhà máy xử lý và chế biến rác thải công suất 100 tấn/ngày (vốn AFD). TP Đà Nẵng có nhà máy xử lý rác thải Khánh Sơn công suất giai đoạn 1 là 200 tấn/ngày…

Nguồn kinh phí cho hoạt động thu gom, vận chuyển CTR sinh hoạt đô thị hiện nay vẫn do Nhà nước bù đắp một phần từ nguồn thu phí vệ sinh trên địa bàn. Tuy nhiên mức thu còn thấp và chỉ đủ bù đắp một phần công tác thu gom, vận chuyển CTR mà chưa tính đến chi phí xử lý CTR. Ví dụ tại Hà Nội, chi phí cho hoạt động thu gom, vận chuyển của Cty URENCO vào khoảng 600 tỷ đồng/năm trong khi tổng nguồn thu từ phí vệ sinh chỉ khoảng 30 tỷ đồng, chiếm 5% tổng số chi.

Mức thu phí vệ sinh hiện từ 4.000 – 6.000 đ/người/tháng hoặc từ 10.000 – 20.000 đ/hộ/tháng tùy theo mỗi địa phương. Mức thu tại các cơ sở sản xuất, dịch vụ chỉ từ 120.000 – 200.000 đ/cơ sở/tháng tùy theo quy mô, địa phương.

Kinh phí cho hoạt động xử lý CTR sinh hoạt là nguồn ngân sách Nhà nước. Do vậy, tùy thuộc vào mỗi địa phương mà mức chi trả cho công tác xử lý CTR sinh hoạt đô thị khác nhau, không thống nhất trên toàn quốc.

Hàng năm ngân sách các địa phương đều dành nguồn kinh phí cho công tác thu gom, vận chuyển, xử lý CTR như: TP Hồ Chí Minh và Hà Nội hàng năm dành khoảng 1.200 – 1.500 tỷ/năm, chiếm khoảng 3,5 % chi ngân sách thành phố; các địa phương khác trung bình khoảng từ 20 - 40 tỷ đồng/năm, thấp nhất có những địa phương chi khoảng 3 đến 10 tỷ đồng/năm.

Bãi rác Đa Phước, TP HCM.

Mặt khác, hiện nay chưa có quy định cụ thể về cơ sở xử lý CTR sinh hoạt và công nghiệp, CTR nguy hại. Ngoài ra, đơn vị thu gom, vận chuyển cũng tham gia công tác xử lý nên vấn đề quản lý nhiều nơi chưa minh bạch, rõ ràng, gây thất thu ngân sách Nhà nước cũng như khó khăn trong công tác quản lý.

Vẫn còn những bất cập

Thực tế cho thấy, với tốc độ công nghiệp hoá, đô thị hoá và gia tăng dân số như hiện nay thì lượng CTR phát sinh sẽ ngày càng tăng cả về khối lượng lẫn thành phần. Do vậy, công tác quản lý CTR sẽ còn phải đối mặt với nhiều thách thức.

Mặc dù các văn bản pháp luật đã được ban hành tương đối đầy đủ, nhưng khả năng áp dụng trong thực tế còn nhiều hạn chế và việc hướng dẫn thực thi chưa kịp thời Cơ chế chính sách ưu đãi về đầu tư xử lý CTR đã có nhưng việc triển khai áp dụng còn nhiều khó khăn, việc tiếp cận các nguồn vốn vay còn quá nhiều hạn chế, vì thế chưa thực sự khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia.

Bên cạnh đó, chất lượng của công tác quy hoạch chưa cao, thiếu nguồn lực để thực hiện quy hoạch.

Một số cơ sở sử dụng thiết bị công nghệ nước ngoài chưa phát huy được hết công suất do chất lượng CTR đầu vào không phù hợp. Số cơ sở xử lý khác vì do công tác dự báo chưa chính xác, khối lượng CTR thấp hơn công suất xử lý nên nhà máy vận hành không hết công suất, vận hành cầm chừng kém hiệu quả gây lãng phí.

Về công nghệ xử lý, theo Cục Hạ tầng kỹ thuật thì qua đánh giá, hầu hết công nghệ nhập ngoại không phù hợp với thực tế ở Việt Nam và không đáp ứng yêu cầu.

Ngoài ra, một số công nghệ được nghiên cứu và áp dụng của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, thiết bị chế tạo chưa đồng bộ, chưa hoàn thiện, vừa làm vừa rút kinh nghiệm vì vậy chưa đủ điều kiện để nhân rộng. Mặt khác cho đến nay, nhà nước chưa có định hướng về sử dụng công nghệ, chưa có tiêu chí lựa chọn công nghệ, thiết bị.

Nhiều địa phương thiếu kinh phí để trả cho công tác xử lý và chi phí cho quản lý vận hành. Trong khi đó, nguồn thu cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTR từ chủ nguồn thải còn hạn chế, đặc biệt phí vệ sinh chỉ đảm bảo một phần công tác thu gom, vận chuyển, chi phí xử lý.

Sự tham gia, phối hợp giữa các Bộ ngành còn nhiều hạn chế, chồng chéo; sự tham gia, chia sẻ của người dân và cộng đồng trong việc đóng góp xây dựng, kiểm tra, giám sát thực hiện còn hạn chế... cũng là khó khăn trong công tác quản lý CTR.

Đâu là giải pháp?

Theo Cục Hạ tầng kỹ thuật, để có thể gỡ được vướng mắc, bất cập như vậy, bên cạnh việc Nhà nước cần ban hành văn bản hướng dẫn về cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ về công nghệ, đầu tư xây dựng, quản lý, vận hành cơ sở xử lý CTR sinh hoạt và tiêu thụ sản phẩm tái chế, tái sử dụng từ chất thải rắn... thì cũng cần tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án “Huy động các nguồn lực đầu tư xây dựng hệ thống cấp thoát nước và xử lý nước thải, chất thải rắn sinh hoạt ” nhằm huy động tối đa và đa dạng các nguồn lực cho công tác đầu tư quản lý CTR.

Bên cạnh đó, nghiên cứu, xây dựng quy định về giá dịch vụ xử lý CTR theo Luật phí và lệ phí có hiệu lực từ ngày 01/01/2017. Nghiên cứu xây dựng mô hình quản lý đầu tư xây dựng cơ sở xử lý chất thải rắn liên vùng. Triển khai đầu tư thí điểm cơ sở xử lý chất thải rắn liên vùng, liên đô thị.

Thống nhất và phân công rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành trong quản lý CTR theo hướng Bộ Tài nguyên & Môi trường quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và tập trung quản lý chất thải nguy hại một cách hiệu quả; giám sát việc thực thi các quy định về bảo vệ môi trường liên quan đến lĩnh vực quản lý chất thải rắn.

Bộ Xây dựng quản lý chất thải rắn sinh hoạt, từ phát sinh, thu gom, vận chuyển đến xử lý. Các Bộ, ngành căn cứ chức năng, nhiệm vụ được Chính phủ giao phối hợp với Bộ Tài nguyên & Môi trường và Bộ Xây dựng trong quản lý CTR.

Theo Xây Dựng

Từ khóa: đô thị, rác thải